BỆNH DO LEPTOSPIRA


I.          ĐỊNH NGHĨA
Nhóm bệnh ở người và súc vật, do xoắn khuẩn truyền bất thường cho người gây ra nhiễm khuẩn huyết hay gây tổn thương thận, gan, thần kinh.
II.         BỆNH HỌC
Tác nhân gây bệnh là những vi sinh vật thuộc giống leptospira có những đặc điểm giống nhau về hình thái học, hình xoắn di động. Một loại gây bệnh cho người là Leptospira interrogans hiện được phân làm khoảng hai mươi nhóm huyết thanh (được chỉ bằng con số) và hơn 170 typ huyết thanh (được chỉ bằng tên). Không có một liên quan tuyệt đối nào giữa triệu chứng học, typ của mầm bệnh, tác nhân vectơ và địa lý; tuy nhiên Leptospira vàng da - chảy máu là căn nguyên của đa số các thể nặng và đầy đủ; Leptospira grippo-typhosa là căn nguyên của các thể màng não dơn thuần.
III.       DỊCH TỄ HỌC
Ổ chứa mầm bệnh là súc vật, người chỉ là một tiếp nhận bất thường. loại gặm nhấm là ổ chính. Đa số chuột là những vật mang mầm bệnh khoẻ mạnh (Leptospira vàng da - chảy máu). Chó (L.cani- cola), lợn (L.pomona), các loài bò và ngựa (L.ìmitis), hiếm hơn các loài chim và cá là những ổ chứa leptospira, đào thải các leptospira qua nước tiểu làm ô nhiễm môi trường (nước, đất, thực phẩm).
Sự truyền bệnh cho người thường gián tiếp với nước và mặt đất bị ô nhiễm (ao, hồ, đầm lầy, hố trũng, đồng ruộng, hầm mỏ): các leptospira xâm nhập qua da (vết thương, vết nứt nẻ hiếm hơn qua niêm mạc mắt, mồm và sinh dục.
Sự lây truyền trực tiếp (bị cắn, tiếp xúc với súc vật thí nghiệm) rất hiếm.
Do đó bệnh có tính chất nghề nghiệp: công nhân thông móc cống, công nhân mỏ, làm rừng, chăn nuôi lợn, nông dân lao động trên nền đất bị ô nhiễm. Có thể lây trong lúc tắm (bể bơi bị ô nhiễm).
Bệnh thường xảy ra một cách lẻ tẻ hoặc thành dịch nhỏ, có thể quanh năm trội lên về mùa hè-thu.
IV.       SINH BỆNH HỌC
Sau khi xâm nhập qua da hoặc qua niêm mạc, các leptospira gây nhiễm khuẩn huyết trong 5 đến 6 ngày lan tràn khắp các cơ quan, đặc biệt là màng não (cấy máu và cấy nước não tuỷ dương tính). Từ ngày thứ 8, các mầm bệnh cố định ở các nội tạng, huyết thanh dương tính. Từ ngày thứ 12-15, đào thải qua nước tiểu (cấy nước tiểu dương tính).
Sốt tái phát từ ngày thứ 15 do miễn dịch.
V.        LÂM SÀNG
Tính chất chung của bệnh do leptospira ở người, có hai loại dấu hiệu: dấu hiệu chủ yếu để chẩn đoán, dấu hiệu thứ yếu để tiên lượng.
A.        CHỦ YẾU
1.         Sốt
Sau thời kỳ nung bệnh từ 7-10 ngày (có thể ngắn hơn hoặc dài hơn tuỳ theo mức độ nhiễm leptospira và đường xâm nhập). Sốt cao đột ngột 40°C, rét run, liên tục 7 ngày rồi khỏi hẳn, hoặc sau 2-            5 ngày lại sốt lại (sốt nhiều pha).
2.         Đau cơ
Nặng nhẹ tuỳ theo mức độ, đau tự nhiên hoặc tăng lên khi sờ nắn đặc biệt khi bóp vào cơ bụng chân.
3.         Hội chứng màng não
Biểu hiện triệu chứng cơ năng (nhức đầu, vật vã, mê sảng) hoặc triệu chứng thực thể (cứng gáy...), về sinh hoá là một viêm màng não nước trong tăng lâm ba cầu.
4.         Xung huyết
ở màng tiếp hợp làm mắt đỏ, ở da làm da toàn thân đỏ, đôi khi phát ban.
5.         Hội chứng thận
Đái ít, nước tiểu có protein. Thường là viêm thận tăng urê huyết. Urê huyết tăng cao và nhanh. ít khi phù. Trường hợp nặng có thể vô niệu. Khi khỏi không để lại di chứng.
B.         DẤU HIỆU THỨ YẾU
1.         Viêm gan - thận
2.         Hội chứng xuất huyết đủ mọi hình thái
3.         Viêm cơ tim
4.         Bệnh chứng thần kinh: viêm dây thần kinh, viêm tuỷ hay viêm não tuỷ.


VI.       CHẨN ĐOÁN BỆNH DO LEPTOSPIRA


-           Chủ yếu gợi ý dựa trên lâm sàng hoặc dịch tễ học.
Chỉ có thể xác định bằng xét nghiệm
Xét nghiệm sinh hoá hướng về bệnh do leptospira
+ Tăng bạch cầu đa nhân + Rối loạn gan và thận + Viêm màng não nước trong
-           Các chứng cớ chắc chắn:
1.         Phát hiện leptospira
a.         Cấy máu hoặc cấy nước não tuỷ: trong 5-7 ngày đầu là giai đoạn nhiễm khuẩn huyết trên môi trường đặc biệt phát triển mầm bệnh chậm cần trung bình 6-10 ngày ủ 30°c.
Dưới kính hiển vi nền đen, leptospira xuất hiện dưới dạng các sợi hình xoắn dài 6-12 µm (cũng có thể tiêm máu và nước não tuỷ cho chuột tam thể, nếu là leptospira vàng da - chảy máu sẽ có các tổn thương nội tạng đặc hiệu khi mổ tử thi).
b.         Từ ngày thứ 12 tìm Leptospira trong nước tiểu sau khi đã kiềm hoá và không điều trị, bằng xét nghiệm trực tiếp hoặc tiêm truyền.
Tuy nhiên thải trừ tiểu của leptospira gián đoạn và kết quả thường âm tính.
2.         Phản ứng huyết thanh học
a.         Các kháng thể từ ngày 6-7, từ ngày 15 dương tính rõ ràng tăng dần đến ngày 50 rồi giảm dần có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm hàm lượng thấp.
Huyết thanh chẩn đoán cần phải làm lại cách nhau một tuần nếu hàm lượng thấp hoặc không có, hoặc để phát hiện các hàm lượng tăng cao cho phép xác định bệnh do leptospira, đang tiến triển. Xét nghiệm rất cần thiết để xác đinh typ huyết thanh căn nguyên.
b.         Các phương pháp
Các phản ứng phát hiện nhanh: vi ngưng kết trên lam kính nhờ kháng nguyên TR - leptospira chung cho nhiều leptospira hoặc phản ứng ngưng kết với kháng nguyên biflexa Patoc (bằng ELISA) dương tính ở giai đoạn cấp (ngưỡng: 1/400)
ELISA không nhậy cảm nhiều với L.grippo-typhosa
Các phản ứng cho phép xác định typ huyết thanh gây bệnh: huyết thanh chẩn đoán của Martin và Pettit
Huyết thanh chẩn đoán này khó và phải có phòng xét nghiệm chuyên khoa (ngưỡng dương tính: 1/100)
c.         Huyết thanh chẩn đoán có thể âm tính trường hợp đã điều trị kháng sinh sớm.
Ngoài ra 1 hàm lượng thấp và ổn định chứng tỏ bị bệnh trước.


VII. ĐIỀU TRỊ BỆNH DO LEPTOSPIRA


1.         Kháng sinh
PenicIlin G liều 5-10 triệu đơn vị/ngày trong 10-15 ngày là kháng sinh hảo hạng (ở trẻ em 100.000 đơn vị/kg).
Các tetracyclin (minocyclin, doxycyclin) được dùng trong trường hợp penicìllin không chịu thuốc. Kháng sinh có kết quả thực sự khi điều trị sớm, phòng các tái phát và đặc biệt các tổn thương nội tạng.
Kháng sinh có thể làm chậm hoặc ngăn cản sự sản xuất kháng thể.
Từ ngày thứ 5, hiệu quả bấp bênh hơn và số lớn các bệnh do lep- tospira khỏi tự nhiên (khó đánh giá).
2.         Điều trị triệu chứng
Hồi phục nước - điện giải, trợ tim mạch, truyền máu (trường hợp xuất hụyết nhiều, có sốc), hồi sức hô hấp và đặc biệt lọc ngoại thận rất cần thiết trong các thể nặng ở khu vực hồi sức.


VIII.     PHÒNG BỆNH DO LEPTOSPIRA


Phòng bệnh cá nhân và tập thể dựa trên diệt các ổ chứa (thực tế khó): diệt chuột, theo dõi các bể bơi.
Đối với công nhân có nguy cơ: mặc quần áo bảo hộ lao động, đi găng, bốt, tiêm chủng.
Vacxin Pasteur: không có phản ứng và có kết quá, đối với L. vàng da - chảy máu. 2 lần tiêm 1ml (cách nhau 15 ngày). Sau 6-8 tháng nhắc lại, mỗi năm nhắc lại 1 lần và 2 năm tuỳ theo trả lời các kiểm tra miễn dịch.

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com