CÚM


I.       ĐỊNH NGHĨA BỆNH CÚM


Cúm là một bệnh lây, do myxovirus, gây dịch lớn. Bệnh khởi phát đột ngột cùng với viêm long các đường hô hấp.
II.      BỆNH CĂN CÚM
Virus cúm hay Myxovirus influenzae là 1 virus ARN, có hình xoắn đối xứng, có vỏ bọc, được phủ kín bằng các thể kim hemagglutinin và neuraminidase.
+ Hemagglutinin cố định virus trên các thụ thể tế bào và làm ngưng kết hồng cầu của một số loại động vật. Hemagglutinin có tính chất kháng nguyên, làm ngưng kết hồng cầu.
+ Neuraminidase, enzym cố định trên virus cúm, có vai trò tách các virus mới của màng tế bào sau khi virus phát triển.
III.     DỊCH TỄ HỌC BỆNH CÚM
a.       Sự thay đổi kháng nguyên: cấu trúc kháng nguyên của các virus cúm có thể thay đổi từ thời đại này đến thời đại khác, từ vụ dịch này đến vụ dịch khác. Sự thay đổi kháng nguyên đặc biệt này giải thích dịch tễ học của cúm và những khó khăn của phòng bệnh bằng vacxin.     -
b.       Có 3 typ lớn của virus cúm A, B và C
-         Các virus của nhóm A: gây các dại dịch hoàn cầu. Nhiều phân nhóm của virus A xuất hiện tiếp tục:
Năm 1940: A0, từ năm 1946 là A1, từ năm 1957 là A2. Các biến đổi kháng nguyên giữa các dưới nhóm ở mức độ quan trọng, do biến đổi của cấu trúc sinh hoá học của các kháng nguyên bề mặt.
Với mỗi một dưới nhóm, các biến đổi mức độ vừa của cấu trúc kháng nguyên cũng xảy ra.
Các biến đổi này do hoặc tái kết hợp di truyền các virus cúm khác cư trú ở súc vật, hoặc đột biến liên tiếp. Saụ một vụ dịch với một typ xuất hiện một quần thể được miễn dịch khá quan trọng có thể giải thích các biến đổi kháng nguyên này.
-         Các virus B và c gây các trường hợp tản phát hoặc các vụ dịch nhỏ, khu trú.
c.       Đại dịch đầu tiên năm 1918-1920 gây chết 20 triệu người do virus nguồn gốc từ lợn.
Từ đó khoảng 10 năm lại xuất hiện một đại dịch tương đương với các biến đổi quan trọng của cấu trúc kháng nguyên và các vụ dịch xuất hiện cứ 2-3 năm với thay đổi nhẹ hơn,
d.       Các vụ dịch có liên quan với giảm miễn dịch của quần thể, lan từ Đống sang Tây và chủ yếu là mùa đông. Điều kiện thuận lợi, người đông đúc ở thành phố, các trẻ em tuổi đi học, không miễn dịch là những người đầu tiên bị nhiễm.
Theo dõi trẻ em nghỉ học để phát hiện tỷ lệ mới mắc bệnh đầu tiên của một vụ dịch. Lây bằng đường hô hấp trực tiếp. Tính lây bệnh rất lớn. Một vụ dịch có thể ảnh hưởng từ 30-60% nhân dân.
IV.      SINH LÝ HỌC BỆNH CÚM
Virus cúm nhân lên trong các tế bào biểu mô của bộ máy hô hấp. Nhiễm virus huyết không hằng định và tạm thời.
Thời gian lây bệnh ngắn (2-3 ngày lúc khởi đầu của nhiễm trùng).
Xâm phạm biểu mô của niêm mạc hô hấp gây ra một phản ứng viêm dưới niêm mạc với phù kẽ và chèn dồn các tế bào đại thực bào. Khi xâm lược virus ở trên các tế bào phế nang, sự long các tế bào này gây rỉ dịch xuất huyết. Sự đồng các protein rỉ dịch gây một màng đốì lập với trao đổi khí. Ngoài ra các mạch máu có thể bị tắc do huyết khối.
Như vậy giải thích suy hô hấp của các thể phổi nặng và ác tính của cúm.
Tất cả các lứa tuổi có thể bị cúm, miễn dịch thu được chỉ là tạm thời ngay cả với chủng gây bệnh.
V.       LÂM SÀNG BỆNH CÚM
1.       Thể thông thường
Thời kỳ ủ bệnh 2-5 ngày Thời kỳ khởi phát: đột ngột
Ba hội chứng: hội chứng nhiễm trùng, đau, xâm phạm các đường hô hấp
-         Sốt 39-40°C, bệnh nhân ủ rũ, mệt lả, rét run
-         Đau lan toả và nổi rõ: nhức đầu sau hố mắt, đau cơ, đau khớp, đau mỏi sống lưng.
-         Viêm long các đường hô hấp biểu hiện bằng đau họng-thanh quản, khó nuốt, và đôi khi khản tiếng. Ho là một triệu chứng hằng định.
-         Ngược lại các triệu chứng cơ năng dữ dội này, khám thực thể nghèo nàn; có thể đỏ lan toả họng. X quang phổi có các hình ảnh quanh rốn, hoặc viêm phổi điển hình, phản ứng màng phổi.
-         Biểu hiện tự nhiên tới khỏi từ 2-5 ngày. Ho và nhất là mệt có thể tồn tại khá lâu.
2.       Các biến chứng
a.       Bội nhiễm vi khuẩn là đặc điểm của người có tuổi và suy hô hấp mạn tính: do Hemophilus influenzae (còn gọi là trực khuẩn Pfeiffer mà trước kia người ta cho là vai trò trong căn nguyên của bệnh cúm), phế cầu và đặc biệt là tụ cầu.
Biểu hiện bằng sốt cao, tăng bạch cầu đa nhân, khạc ra mủ, tình trạng hô hấp nặng lên.
X quang xác định sự lan tràn và kiểu xâm nhiễm, viêm phổi hệ thống, áp xe phổi, có nước màng phổi. Trước một diễn biến kéo  dài cần phải nghĩ đến lao. Bội nhiễm đường hô hấp trên cùng cơ thể: viêm tai, xiêm xoang, viêm thanh quản vi khuẩn.
b.       Các biến chứng khác ngoài đường hô hấp do chính bản thân virus và là rất hiếm: viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, viêm đa rễ dây thần kinh.
3.       Các thể hô hấp nặng và cúm ác tính
-         Một số yếu tố dễ làm xảy ra: suy hô hấp mạn tính, bệnh van tim hai lá.
-         Thường thấy hơn, xảy ra dữ dội ở các bệnh nhân không có bệnh tật nào trước.
-         Chính do bản thân virus, xâm phạm phế nang hàng loạt, hoặc do bội nhiễm vi khuẩn thường gặp, do tụ cầu. Các thể nặng này thường tử vong.
Khởi đầu của cúm có thể nghèo nàn và các triệu chứng nặng xuất hiện sau vài ngày. Trái lại có thể xảy ra sớm sau 48 giờ, chúng phối hợp:
-         Suy hô hấp cấp: khó thở, tím tái
-         Các rối loạn tim mạch: tim nhanh dữ dội, huyết áp kẹt lại, có thể xuất hiện nhịp ngựa phi chứng tỏ suy tim phải. ECG cho thấy chuyển trục sang phải, đôi khi có các dấu hiệu của quá tải phải hoặc các rối loạn lan toả của tái cực.
-         Các biểu hiện thần kinh: rối loạn ý thức cường độ khác nhau, co giật và cả các hội chứng suy giảm có thể nhận thấy. Một phản ứng màng não lâm sàng và sinh hoá có thể xảy ra.
-         Suy thận là hằng định, thường có viêm gan hoại tử.
Diễn biến có thể khả quan nhờ hồi sức hô hấp. Có thể chết nhanh mặc dù cho oxy. Mổ tử thi thấy các phổi đặc lại, toàn bộ phế nang đều đầy các chất tiết có fibrin và bạch cầu, các mạch máu phổi và cả các động mạch phổi cũng bị huyết khối.
Tuỳ theo địa tạng:
-         ở nhũ nhi, tần suất các viêm thanh quản và viêm phổi kiểu khó thở
-         ở người có tuổi, tần suất các bội nhiễm và suy tim.
-         ở phụ nữ có mang, có thể gây sẩy thai, virus của bệnh cúm không gây quái thai.
VI CHẨN ĐOÁN BỆNH CÚM
-         Chẩn đoán xác định: thường dễ với yếu tố dịch tễ và bệnh cảnh lâm sàng, nhưng muốn chắc chắn phải dựa vào các xét nghiệm sinh hoá.
Huyết đồ: không sử dụng vì lý do thường có bội nhiễm và sự xuất hiện ngưng kết tố lạnh không đặc hiệu.
Phân lập virus cần phải lây bệnh phẩm bằng rửa sạch hoặc ngoáy họng càng sớm nếu có thể được và không trường hợp nào sau ngày thứ 4.
Huyết thanh học dùng:
+ loại phản ứng ức chế NKHC
+ Hoặc phản ứng cố định bổ thể
Cần ngoáy họng cách nhau hai tuần để có động lực kháng thể.
-         Thực tế hàng ngày, không thể chạy theo các xét nghiệm này mà dựa vào bệnh cảnh lâm sàng phối hợp với yếu tố lây là dủ.
Chắc chắn là một số virus khác: myxovirus, adenovirus, enterovirus của nhóm ECHO tạo ra những bệnh cảnh gần giống như mệnh danh là chứng bệnh cúm thực tế không có giá trị thực hành.
Có khó khăn khi có các biểu hiện hô hấp - màng phổi, phế quản hoặc họng, viêm màng ngoài tim, biểu hiện thần kinh, cần hiểu một biểu hiện như thế có thể phối hợp với virus cúm, một bội nhiễm virus cúm hoặc một nhiễm khuẩn bản chất khác.
Do đó sinh hoá có ích lợi. Không quên rằng có thể có phối hợp, đặc biệt lao và cần phải đặc biệt cảnh giác trong việc theo dõi tình trạng lại sức của cúm.


VII.    ĐIỀU TRỊ BỆNH CÚM


Cúm đơn giản không đòi hỏi một điều trị ngoài nghỉ ngơi, uống nhiều, aspirin phối hợp hoặc không với vitamin c và các thuốc giảm đau.
Cúm biến chứng cần dùng kháng sinh để chống bội nhiễm
Ở trẻ nhũ nhi, người già, người có viêm phế quản mạn, cho một cách hệ thống một kháng sinh.
Các cúm ác tính cần hồi sức ở đơn vị chuyên khoa


VIII.     PHÒNG BỆNH CÚM


а.       Vacxin chống cúm: vacxin chết, bất hoạt bởi formon hoặc β propiolacton. Trộn lẫn các chủng A và B, chủng A được dùng là chủng gây các vụ dịch mới đây nhất.
Vacxin được sử dụng bằng tiêm dưới da 0,5ml ở người lớn, 0,25ml ở trẻ em < 10 tuổi.
Miễn dịch xuất hiện 10 đến 15 ngày sau và kéo dài 6-12 tháng. Bảo vệ trên 60-80% người tiêm.
Người ta thường tiêm vào mùa thu và có thể làm tăng miễn dịch bằng một lần tiêm nhắc lại trong mùa đông.
Tiêm chủng có thể áp dụng cho tất cả mọi người. Cần tiêm chủng cho người có tuổi, người có suy hô hấp mạn tính, có bệnh van tim và nhân viên y tế bệnh viện tiếp xúc với lây. Các phụ nữ có thai có thể tiêm chủng,
Chống chỉ định tiêm: dị ứng với trứng. Các phản ứng phụ chủ yếu là tại chỗ, đặc biệt đau nơi tiêm các mũi nhắc lại.

b.       Một số dược liệu (amantadin) có một kết quả phòng bệnh tạm thời hoặc tốt hơn là những thuốc ức chế.sự đột nhập virus trong các tế bào tiếp nhận và có một số hiệu quả phòng. Chúng có thể dùng với liều 100 - 200mg/ngày. Sự bảo vệ chỉ kéo dài trong khi tiêm để điều trị và chỉ giá trị đối với Myxovirus A.

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com