HO GÀ


I.       ĐỊNH NGHĨA HO GÀ


Bệnh của trẻ nhỏ, rất lây và gây thành dịch, đặc trưng bởi một chứng xuất tiết ở đường hô hấp và những cơn ho rũ rượi (co thắt).
Từ ngày có kháng sinh các biến chứng do bội nhiễm hô hấp đã giảm nhiều và bệnh não trở nên hiếm, bệnh ho gà vẫn còn là một bệnh luôn luôn nặng ở trẻ dưới 2 tuổi. Do đó nhắc nhở cần thực hiện tiêm chủng phòng bệnh sớm.


II.      BỆNH HỌC HO GÀ


Tác nhân gây bệnh là cầu trực khuẩn Bordet và Gengou hay Bordetella pertussis, gram âm, ngắn và bất động.
Bordetella parapertussis, gây một bệnh nhẹ nhưng hiếm. Không có miễn dịch chéo.


III. DỊCH TỄ HỌC HO GÀ


Bệnh có tính dịch địa phương trên toàn thế giới và hiếm từ ngày tiêm chủng phòng bệnh. Lây trực tiếp, tối đa vào giai đoạn viêm long của bệnh, rồi giảm sau tuần thứ hai của cơn ho.
Miễn dịch thu được lâu bền nhưng có thể giảm theo thời gian. Miễn dịch thụ động từ mẹ sang thai nhi không có do đó giải thích các sơ sinh và nhũ nhi không tiêm chủng rất dễ mắc.
Từ ngày tăng cường tiêm chủng, ho gà chỉ gặp ở trẻ trước 2 tuổi và đặc biệt trước 6 tháng. Có thể gặp ở trẻ lớn hơn và ở trẻ tiêm phòng, một thể nhẹ. Hiếm ở người lớn.


IV.      LÂM SÀNG HO GÀ


1.       Thế thông thường của trẻ em
a.       Thời kỳ nung bệnh: yên lặng từ 7 đến 15 ngày
b.       Thời kỳ xâm nhiễm hay giai đoạn xuất tiết kéo dài từ 7 đến 15 ngày, biểu hiện một bệnh cảnh viêm khí - phế quản nhẹ với sốt nhẹ hoặc không sốt và ho chú ý đặc biệt là có tính chất ho khan thông thường rồi dai dảng nặng về đêm, và hay nôn.
Nếu có yếu tố dịch tễ, chưa tiêm phòng phải nghĩ đến ho gà. Phải cách ly vì giai đoạn này rất lây.
c.       Thời kỳ toàn phát hay giai đoạn ho cơn: ít lây hơn nhưng dễ đoán hơn, do có cơn ho gà trẻ ngừng chơi, ho rũ rượi hàng thôi, hàng hồi rồi ngừng thở vài giây sau đó thở rít vào như gà gây rồi lại ho rũ rượi, ngừng thở, ho tái phát 3 đến 4 lần có khi 10-15 lần cho đến khi ra dãi trong, dính. Sau đó có thể nôn. Mặt tím lại, nề, mi mắt sưng húp, vã mồ hôi, mắt đỏ và chảy nước mắt.
Nhiệt độ thường bình thường, nếu sốt thực tế là biểu hiện một biến chứng. Thời kỳ này lâu từ 3-6 tuần.
d.       Thời kỳ lui bệnh: cơn ho giảm rồi hết. Tiến triển của bệnh kéo dài từ 6 đến 8 tuần. Trẻ gầy và sau nhiều tháng có thể ho như ho gà nhân một nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ.
2.       Ho gà ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi
Bệnh nặng, tử vong cao (2-3%) chủ yếu do các biến chứng hô hấp và thần kinh.
a.       Cơn ho gà thường không diển hình nên khó chẩn đoán: có khi chỉ như hắt hơi vài cái rồi môi và mặt tím dần. Phải cấp cứu ngay.
b.       Nôn nhiều đưa đến chán ăn, suy dinh dưỡng hoặc kiệt nước
c.       Trong tuần thứ ba có thể xuất hiện các biến chứng hô hấp kịch phát:
-         Cơn ho ngạt thở: cơn ho càng ngày càng yếu dần, đờm đặc dính ứ đọng dữ dội đưa đến tình trạng ngạt với tím tái, mạch nhanh, mất ý thức, ngừng thở. Chết nhanh. Nếu hồi sức cấp cứu qua khỏi lại có thể xuất hiện cơn ho.
-         Ngừng thở, ngất: ngừng tim, ngừng thở xảy ra ngoài cơn ho do đó phải theo dõi ho gà ở nhũ nhi ở bệnh viện.
3.       Biến chứng
a.       Biến chứng hô hấp:
-         Viêm phế quản - phổi: do bội nhiễm streptocoque, pneumo- coque, Hemophilus influenzae hoặc các mầm bệnh ở bệnh viện (tụ cầu, enterobacterie, pseudomonas) khó thở, tím tái, ho liên tục và khó khăn, sốt.
-         Xẹp phổi
-         Phổi ho gà
b.       Biến chứng thần kinh: do độc tố ho gà đóng vài trò chủ yếu và thiếu oxy não cấp hoặc mạn là yếu tố cơ bản khởi động.
-         Co giật: thường gặp trước 2 tuổi phối hợp với rối loạn chuyển hoá hoặc tăng nhiệt độ hoặc xảy ra sau cơn ho gà ngạt thở.
-         Viêm não ho gà
-         Biến chứng cơ giới: đứt hàm lưỡi, chảy máu cam, xuất huyết dưới giác mạc, nốt xuất huyết ở mặt, sa ruột, lồng ruột.


V.       CHẨN ĐOÁN HO GÀ


Chẩn đoán sinh hoá cho kết quả chắc chắn:
a.       Huyết đồ đặc trưng ở giai đoạn cuối của thời kỳ xuất tiết: tăng bạch cầu > 15,0 X 109/1 đôi khi dạng bệnh bạch cầu (> 40 0 X 109/1) với tăng lympho nổi bật (60-90%).
ở nhũ nhi và người lớn, các biến đổi này không rõ
Tăng bạch cầu đa nhân chứng tỏ bội nhiễm vi khuẩn
b.       Cấy đờm dãi giai đoạn xuất tiết
c.       Miễn dịch huỳnh quang trực tiếp đờm dãi cho kết quả nhanh (vài giờ), sớm (giai đoạn xuất tiết).


VI.      ĐIỀU TRỊ HO GÀ


-         Cần phát hiện sớm, điều trị ngay bằng erythromycin 50mg/kg/ngày trong 10 ngày.
Có tác dụng diệt khuẩn, giảm lây lan
Cho dùng càng sớm càng tốt vì kháng sinh thường ít kết quả khi đã có những cơn ho gà.
-         Cho ăn sau khi nôn
-         Cho nhập viện sớm rất cần thiết ở trẻ nhỏ < 1 tuổi, cho phép theo dõi liên tục những cơn ho gà ngạt thở và ngừng thở ngạt. Hút đờm đãi, oxy liệu pháp rất có ích. Bồi phụ nước và dinh dưỡng đôi khi bằng đường tĩnh mạch để chống lại suy dinh dưỡng.
-         Bội nhiễm: kháng sinh liệu pháp, amoxycIlin + acid clavulanic hoặc cephalosporin,
-         Biến chứng thần kinh: điều trị chống co giật, chống phù và hô hấp cơ giới.


VII.    PHÒNG BỆNH HO GÀ


Cách ly, nghỉ học (sau khi có cơn ho 30 ngày). Tuy nhiên cách ly ít kết quả vì lây mạnh nhất giai đoạn khởi phát. Cho kháng sinh dự phòng những người tiếp xúc với bệnh nhân bằng macrolid.
Vacxin ho gà thường được kết hợp với vacxin phòng bạch hầu, phòng uốn ván, được tiêm chủng từ tháng tuổi thứ ba, chia ba lần, tiêm sâu dưới da, cách nhau 1 tháng và tiêm nhắc lại sau 1 năm.

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com