VIÊM GAN DO VIRUS


I.          ĐỊNH NGHĨA VIÊM GAN DO VIRUS
Danh từ viêm gan do virus được dùng để chỉ những bệnh viêm gan do virus nhưng khác nhau về tác nhân gây bệnh, dịch tễ học, lâm sàng và tiến triển.
II.         BỆNH HỌC
A.        VIRUS VIÊM GAN A (HAV)
Là 1 picoraavirus, virus ARN, không có vỏ
Đường lây chủ yếu là tiêu hoá (phân - miệng)
Virus có trong phân người bị nhiễm lây sang người khác bằng nhiều cách (bàn tay bẩn, nước, thực phẩm bị ô nhiễm), giai đoạn nhiễm virus huyết ngắn nên lây qua máu hiếm.
Bệnh có tính cách gây dịch hay tản phát
-           Chủ yếu ở thanh thiếu niên, thường không có triệu chứng
-           Tần suất liên quan chặt chẽ với điều kiện vệ sinh kém và mức sống kinh tế - xã hội thấp.
-           Thời kỳ ủ bệnh ngắn (từ 2 đến 6 tuần)
-           Lành tính, không chuyển thành mạn tính. Nguy kịch 0,14%
-           Chỉ có một kháng nguyên HAV Ag và 1 kháng thể (anti HAV)
B.         VIRUS VIÊM GAN B (HBV)
Thuộc họ Hepadnavirus, virus ADN, có 1 nhân và một vỏ
Có 3 kháng nguyên
-           Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBs Ag) (trước đây gọi là kháng nguyên Australia) thuộc vỏ virus.
-           Nhân gồm 2 kháng nguyên:
+ Kháng nguyên trung tâm viêm gan B (HBc Ag) (core: lõi) + Kháng nguyên e viêm gan B (HBe Ag)
Giữa nhân là acid nucleic cùng với 2 enzym đóng vai trò làm phát triển và trưởng thành virus: ADN polymerase và 1 protéinekinase.
Mỗi kháng nguyên hình thành một kháng thể tương ứng: anti- HBs, anti-HBc, anti-HBe.
Tiểu thể Dane gồm có vỏ và nhân là 1 virus hoàn chỉnh.
Đường lây
Chủ yếu là máu, nhiễm virus huyết rất cao, 1ml huyết thanh chứa 10 vìrus
a.         Lây truyền ngang: máu và các dẫn chất của máu, lọc máu tiêm truyền (người truyền máu nhiều lần, xì ke ma tuý, một số bệnh nghề nghiệp đặc biệt là nhân viên y tế, xét nghiệm viên, nhất là trong đơn vị lọc máu và phòng xét nghiệm).
-           Có thể lây bằng các chất tiết nhất là sinh dục và nước bọt.
-           Có thể truyền theo đường tiêu hoá hoặc hoa liễu: trong gia đình một bệnh nhân bị viêm gan B, tình dục đồng giới gái điếm.
b.         Lây truyền dọc: từ người mẹ nhiễm sang thai nhi sơ sinh rất nguy hiểm vì:            1
-           Sơ sinh trước 6 tháng bị nhiễm, nguy cơ sẽ thành viêm gan mạn tính, hoặc mang nạn tính HBV.
-           Các bà mẹ có thai 3 tháng cuối bi viêm gan cấp hoặc trong giai đoạn chu sinh.  
-           Bà mẹ nhiễm khuẩn mạn tính có thai
-           Nếu mẹ có HBs Ag và HBe dương tính thì 85% sơ sinh bị nhiễm HBV, tuy nhiên nguy cơ này có thể giảm xuống 25% nếu mẹ HBe Ag- âm tính.
Dịch tễ học
HBV có khắp nơi, nhưng tỷ lệ toàn bộ HBV thay đổi tuỳ theo vùng. Có 3 vùng:
1.         Vùng dịch địa phương thấp (Tây Âu, Bắc Mỹ, ÚC) virus viêm gan B hiếm ở trẻ em, tỷ lệ người có anti HBs là 5%.
Người mang mạn tính (HBs Ag): 0,1-0 5%
2.         Vàng dịch địa phương trung bình (Trung Đông, Nam Mỹ Đông Âu, Liên Xô CŨ) tỷ lệ người có anti HBs: 20-50%. Người mang mạn tính (HBs Ag): 2-7%.
3.         Vùng dịch địa phương cao (Trung Quốc, Đông Nam Á, Châu Phi gần Sahara) tỷ lệ người có anti HBs: 70-95%. Người mang mạn tính (HBs Ag): 8-15%
Nhiễm khuẩn ở trẻ em và trong thời kỳ chu sinh thường gặp Thời kỳ nung bệnh dài: từ 4 đến 26 tuần Nặng hơn viêm gan virus A
Viêm gan virus B cấp chuyển thành mạn: 27-30%
1% là viêm gan cấp chuyển thành tối cấp.
c. VIRUS VIÊM GAN D (DELTA)
Virus delta là 1 virus không hoàn chỉnh ARN dùng vỏ của virus viêm gan B. Nó có đặc tính bệnh lý ở người độc nhất là cộng sinh với một virus hướng gan khác.
Dịch tễ học:
-           Nhiễm khuẩn virus delta tả lần dầu tiên ở Ý và sau đó lan tràn khắp thế giới.
ở Tây Âu và Bắc Mỹ hay gặp ở người xì ke ma tuý.
Đường lây:
-           Lây của virus delta gần giống như HBV do máu và các chế phẩm của máu hoặc tiếp xúc chặt chẽ giữa người với người.
-           Có 2 khả năng:
1.         Nhiễm virus viêm gan B đồng thời với virus delta. Trong đa số trường hợp bệnh biểu hiện như một viêm gan B nhẹ, sự có mặt của virus delta không làm tăng thêm nguy cơ tiến triển đến một viêm gan virus B mạn tính.
Một số tác giả cho rằng nhiễm virus viêm gan B đồng thời với virus delta làm tăng nguy cơ thành viêm gan nguy kịch.
2.         Bội nhiễm virus delta trên 1 người mang virus B mạn tính. Tiến triển trong 70% các trường hợp viêm gan mạn tính hoạt động và 20% tiến tới xơ gan.
D.        VTRUS VIÊM GAN C
Mầm bệnh có thể là một flavivirus.
Chủ yếu gây các bệnh viêm gan sau truyền máu (80% các viêm gan sau truyền máu, 10% các bệnh nhân truyền máu). Fibrinogen, các yếu tố chống chảy máu VNI và IX cùng như các globulin miễn dịch có thể là nguồn lây bệnh viêm gan, giống như virus B. Ngày nay, người ta tìm một cách hệ thống người cho máu.
Cách lây khác là qua đường sinh dục: hiếm
50% tiến tới mạn tính, xơ gan phát triển trong 20%
E.         VIRUS VIÊM GAN E
Giống như virus viêm gan A lây qua đường tiêu hoá
Virus có hình thể một picornavirus, bài tiết nhiều trong phân
Dịch tễ học: lây theo đường phân - miệng.
Lấy theo nước được phát hiện trong các vụ dịch ở Ấn Độ và ở Angiêri, trong các vụ dịch khác lây trực tiếp giữa người và người cũng được nêu ra.
1 - 2% chuyển thành viêm gan nguy kịch, đặc biệt nặng của viêm gan E ở phụ nữ có mang 3 tháng cuối.
III.       LÂM SÀNG
A. THỂ CẤP ĐIỂN HÌNH CÓ VÀNG DA
1.         Thời kỳ nung bệnh: dài hay ngắn tuỳ thuộc vào căn nguyên. Thời kỳ này hoàn toàn yên lặng.
2.         Thời kỳ tiền hoàng đản: 4 đến 10 ngày
Triệu chứng rất phức tạp và thô sơ, nếu không chú ý dễ bỏ qua. Phần lớn bệnh nhân đến bệnh viện đã sang giai đoạn toàn phát.
Theo nguyên tắc chung có một số dấu hiệu sau:
a.         Dấu hiệu nhiễm trùng: sốt nhẹ 37°c - 38,5°C Nhiều trường hợp không sốt.
b.         Dấu hiệu toàn thể: bệnh nhân rất mệt mỏi, cả thể xác lẫn tinh thần.          ,
Có sự mâu thuẫn giữa hội chứng nhiễm trùng rất nhẹ mà tình trạng mệt mỏi toàn thân rất nặng.
c.         Dấu hiệu giả cúm: nhức đầu, đau mỏi mình mẩy, đau xương, đau khớp, phát ban hay gặp ở viêm gan B.
d.         Dấu hiệu rối loạn tiêu hoá: chán ăn, miệng đắng, buồn nôn, đau vùng thượng vị, hoặc hạ sườn phải. Đặc biệt nước tiểu rất ít, sẫm màu như nước bia đặc.
Xét nghiệm: xét nghiệm trong thời kỳ này có giá trị chẩn đoán.
-           Transaminase huyết thanh: bình thường SGOT 1.5 Mmol/ml, SGPT 1.3 Mmol/ml
Giá trị phải gấp 5 đến 10 lần bình thường mới có giá trị chẩn đoán. Có khi gấp 100 - 200 lần bình thường.
-           Nước tiểu có sắc tố mật, muối mật
-           Bạch cầu bình thường hoặc hạ
-           Tìm HBs Ag trong huyết thanh
3.         Thời kỳ toàn phát (hoàng đản)
Thường bệnh nhân đến bệnh viện trong giai đoạn này.
Hoàng đản xuất hiện từ từ và tăng dần, bắt đầu từ niêm mạc mắt rồi đến toàn bộ da, vàng da càng ngày càng tăng. Nước tiểu số lượng vẫn ít, sẫm màu.
Dấu hiệu rối loạn tiêu hoá đã đỡ hơn so với trước (thời kỳ tiền hoàng đản) nhưng khi ăn vẫn chưa thực sự ngon miệng, còn khó tiêu.
Đặc biệt bệnh nhân hết sốt nhưng vẫn còn mệt mỏi, mất ngủ.
Khám: gan bình thường hoặc hơi to, nắn hơi đau, ấn hơi tức
Xét nghiệm trong thời kỳ này có giá trị tiên lượng hơn là chẩn đoán.
-           Tìm HBs Ag trong huyết thanh
-           Bạch cầu bình thường hoặc hạ
Để thăm dò chức năng, tiến hành thăm dò 4 hội chứng:
a,         Hội chứng huỷ hoại tế bào gan: SGOT, SGPT trở về bình thường sau 4 tuần. Nếu sau 8 tuần chưa trở về bình thường, hoặc trở về bình thường rồi lại lên cao trở lại, tiên lượng xấu nhất là khi SGOT lại cao hơn SGPT.
b.         Hội chứng ứ mật: bilirubin máu toàn phần tăng cao, chủ yếu là bilirubin trực tiếp.
Nước tiểu có sắc tố mật, muối mật
c.         Hội chứng viêm: phản ứng Mac Lagan > 5 đơn vị thymol. Tủa với thymol (+)
d.         Hội chứng suy tế bào gan: cholesterol toàn phần hạ thấp chủ yếu là cholesterol este hoá.
Tỷ lệ prothrombin hạ thấp (bình thường 70-80%).
Điện di protein huyết thanh: albumin giảm.
4.         Thời kỳ lui bệnh
Bệnh báo hiệu khỏi bằng một cơn đi tiểu nhiều. Nước tiểu mỗi ngày 2-3 lít, màu nhạt dần và vàng da cũng đỡ dần,
Bệnh nhân ăn uống ngon miệng và lại sức
Xét nghiệm:
Các xét nghiệm sinh hoá dần dần trở về bình thường. Đặc biệt phản ứng Mac Lagan vẫn còn dương tính từ 3 - 6 tháng sau.
Đối với viêm gan B xuất hiện kháng thể của HBs Ag.
Tuy nhiên ở một số người, thỉnh thoảng vẫn còn mệt mỏi, ăn uống không tiêu, đau ậm ạch vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải, xét nghiệm transaminase có thể tăng nhẹ còn các xét nghiệm khác đều bình thường gọi là hội chứng sau viêm gan thường xảy ra ở người hay lo lắng về tinh thần.
Vì vậy phải theo dõi HBs Ag, Nếu kéo dài quá 4 tháng phải nghĩ đến viêm gan mạn tính sau viêm gan virus.
B.         CÁC THỂ LÂM SÀNG
Về sinh lý bệnh, các biểu hiện của viêm gan virus là kết quả của sự đáp ứng của túc chủ đối với nhiễm trùng, điều này giải thích sự đa dạng ghê gớm của viêm gan. Sự phát triển của virus bản thân ít gây bệnh cho tế bào gan.
Người ta thừa nhận sự thải trừ các tế bào gan bị nhiễm trùng phụ thuộc vào cơ chế miễn dịch thể dịch và tế bào. Bản chất và tính chất của sự đáp ứng miễn dịch này phụ thuộc vào rác yếu tố di truyền dẫn đến có 4 loại biểu hiện của mối liên quan túc chủ và virus.
a.         Đáp ứng của bệnh nhân rất mạnh làm thải trừ các virus lưu hành và trong các tế bào bị nhiễm: đó là viêm gan cấp cổ điển.
Phản ứng thải trừ có thể tối cấp làm hoại tử tế bào gan hàng loạt như trong viêm gan thể nguy kịch
b.         Đáp ứng của bệnh nhân yếu và không thích đáng: thải trừ các virus mạn tính, nhân đôi virus viêm gan B kéo dài (HBs Ag dai dẳng) đồng thời huỷ hoại âm thầm tổ chức gan. Tình trạng này có thể kéo dài nhiều tháng, nhiều năm tiến triển đến xơ gan sau viêm gan, K gan tiên phát.
c.         Đáp ứng của bệnh nhân yếu nhưng thích đáng: 80% các trường hợp, bệnh biểu hiện không có triệu chứng hoàn toàn và tiến triển tới khỏi.
d.         Đáp ứng của bệnh nhân không có: đây là trường hợp những người khoẻ mạnh mang virus chịu đựng hoàn toàn sự phát triển virus đôi khi rất dữ dội.
Về lâm sàng có thể sơ đồ hoá chia ra làm 3 loại:
1.         Thể nhẹ
a.         Viêm gan cấp điển hình có hoàng đản:
-           Đối với viêm gan A: hội chứng nhiễm trùng, sốt cao hơn và khởi đầu đột ngột.
-           Đối với viêm gan B: sốt nhẹ, tiến triển âm thầm hơn và kéo dài hơn. Với các dấu hiệu tiêu hoá và toàn thể nổi bật.
Giai đoạn tiền hoàng đản có đau các khớp và nổi đơn.
b.         Thể không vàng da: tỷ lệ cao hơn thể vàng da = 2/1 (2 không vàng đa, 1 có vàng da) có tác giả: 100/1.
Đầy đủ các triệu chứng lâm sàng và sinh hoá như thể có vàng da, chỉ có triệu chứng chủ yếu là không có vàng da và xét nghiệm bilirubin máu không cao.
2.         Thể viêm gan kéo dài
Trong 10% các trường hợp viêm gan virus B, bệnh dai dẳng với mang mạn tính kháng nguyên HBs trên 6 tháng.
Mang mạn tính kháng nguyên HBs có thể xảy ra sau một viêm gan cấp hoặc một thể không có triệu chứng.
Đặc biệt thường gặp ở những người suy giảm miễn dịch (50%) và ở 90%-100% các sơ sinh tuổi dưới 6 tháng. 30% những người mang mạn tính là những người mang mạn tính không có triệu chứng: đó là những người mang dai dẳng HBs Ag không có biểu hiện lâm sàng, sinh hoá rõ ràng nhưng có nguy cơ lây bệnh.
Thời gian mang này rất khác nhau từ vài tháng đến vài năm
a.         Vàng da kéo dài dơn giản: bình thường hết vàng da trước 6 tuần. Nếu vàng da quá 6 tuần gọi là vàng da kéo dài. Vàng da ở người lớn thể kéo dài thường ứ mật.
Nổi bật là triệu chứng vàng da
Có thể khỏi từ 3-6 tháng
b.         Viêm gan ứ mật: vàng da quá 6 tuần. Vàng da đậm, vàng da càng ngày càng tăng. Phosphatase kiềm tăng. Ngứa nhiều. Phân bạc màu
Có thể khỏi nhưng chậm từ 6-12 tháng
c.         Viêm gan mạn tính sau viêm gan do virus hoặc chuyển thành xơ gan.
Có thể biến chứng ung thư gan tiên phát
3.         Viêm gan cấp nặng (chiếm 1 trên 1000 các viêm gan B, 1% của các viêm gan cấp). Nặng tăng lên theo tuổi.
Điển hình là teo gan vàng cấp
Các biểu hiện lâm sàng lúc đầu là các biểu hiện của thể thông thường nhưng cũng có thể khởi đầu đột ngột dữ đội sốt cao 39-40°, nôn liên tục.
Ngày thứ 2-3 xuất hiện vàng da và lập tức các triệu chứng nặng của bệnh xuất hiện: hội chứng xuất huyết, rối loạn ý thức: lơ mơ, lú lẫn, mê sảng.
Sau 4-8 ngày bệnh nhân đi vào hôn mê
Khám: thở mùi gan. Mất vùng đục trước gan, gan teo nhỏ
Xét nghiệm: tỷ lệ prothrombin 30%. NH3 máu tăng cao.
Trong 85% các trường hợp, tiến triển tới tử vong trong vài ngày.
Trường hợp khỏi, không để lại di chứng
Virus delta đóng vai trò trong một số trường hợp viêm gan nặng.
Chẩn đoán viêm gan virus là một chẩn đoán vô cùng phức tạp. Trong điều kiện thực tế của ta có hai tình huống:
1.         Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm miễn dịch - huyết thanh học, chúng ta dựa hẳn vào lâm sàng: trước một trường hợp hoàng đản muốn chẩn đoán căn nguyên, chúng ta phải tiến hành 3 bước:
a.         Bước 1: loại trừ hoàng đản do tắc mật cơ giới như:
Sỏi mật có dấu hiệu kinh điển và trình tự: đau - sốt - vàng da. Vàng da tái đi tái lại nhiều lần.
Ung thư đầu tuỵ: xảy ra ở người nhiều tuổi, hoàng đản càng ngày càng tăng. Khởi đầu không sốt, các xét nghiệm chức năng gan bình thường.
b. Bước 2: loại trừ những trường hợp viêm gan do thuốc. Viêm gan do thuốc càng ngày càng nhiều qua 2 cơ chế: nhiễm độc và dị ứng.
Các thuốc hay gặp: Rimifon, rifamycin, aminazin, dopamin.
Khi ngừng dùng thuốc, bệnh đỡ
c.         Bước 3: là những hoàng đản nhiễm khuẩn, nhiễm trùng.
Về vi khuẩn hay gặp là thương hàn, nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm, vi khuẩn kỵ khí, đôi khi do tụ cầu.
Hoàng đản trong một bệnh cảnh lâm sàng nặng của nhiễm khuẩn huyết.
Về ký sinh trùng dễ nhầm với sốt rét nặng và biến chứng: thể gan - mật. Có thể do amip ở gan.
Về xoắn trùng phải loại trừ hoàng đản do xoắn trùng leptospira: sốt cao, rét run, đau cơ, dấu hiệu màng não, phát ban sung huyết ở da và có biểu hiện ở thận.
Cuối cùng chúng ta mới nghĩ đến hoàng đản do virus viêm gan A,B,C,D..., dựa vào yếu tố dịch tễ, lâm sàng, sinh hoá.
2.         Nếu có điều kiện chúng ta tiến hành các xét nghiệm miễn dịch - huyết thanh học để chẩn đoán căn nguyên.
VIÊM GAN VIRUS A
l. Các phương pháp trực tiếp
-           Giai đoạn vàng da: thải trừ qua phân thực tế đã hết.
Cũng như tìm virus trong phân bằng kính hiển vi điện tử hoặc kỹ thuật phóng xạ - miễn dịch học hoặc miễn dịch enzym thường thất bại.
2.         Các phương pháp gỉán tiếp
Chẩn đoán nhanh viêm gan vìrus A do tìm IgM anti HAV bằng phương pháp phóng xạ miễn dịch hoặc miễn dịch - enzym. Tìm các kháng thể anti HAV này chỉ có ích lợi về dịch tễ học mà thôi.
VIÊM GAN VIRUS B HBV không cấy được:
-           Một số test (HBs Ag và anti HBs huyết thanh) là các xét nghiệm thường quy.
-           Một số khác (HBe Ag và anti HBc)
Tìm các kháng nguyên HBs và HBc trong tổ chức gan thuộc về các phòng thí nghiệm chuyên khoa, các kỹ thuật mới như tìm ADN viral trong huyết thanh hoặc lồng ghép trong genom tế bào gan chỉ thực hiện với vài tổ nghiên cứu.
-           Tìm HBs Ag: nếu HBs Ag (+) chúng ta có hai tình huống: + Người lành mang HBs Ag
+ Viêm gan virus B đang tiến triển
-           Cần tìm thêm các đánh dấu huyết thanh khác:
+ HBsAg (+) + IgM anti HBc với tỷ giá cao: mắc bệnh viêm gan virus B giai đoạn cấp tính, chắc chắn có HBe Ag trong giai đoạn này.
+ HBs Ag (-) + kháng thể anti HBs + IgM anti HBc: mắc bệnh viêm gan virus B giai đoạn muộn, tiến triển khả quan.
+ Nếu HBs Ag (+) mà không có IgM anti HBc: viêm gan cấp do một nguyên nhân khác, hoặc là người lành mang HBs Ag.
V.        ĐIỀU TRỊ
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu:
1.         Nghỉ ngơi
Điều trị hiện nay chủ yếu là nghỉ ngơi triệt để tại giường trong thời kỳ còn mệt, còn vàng da.
Hết vàng: đi lại trong phòng
Khỏi hoàn toàn: nghỉ dưỡng sức 15 ngày đến 1 tháng rồi hoạt động bình thường.
Thời gian nghỉ linh động tuỳ theo sự phục hồi thể lực của bệnh nhân và tuỳ theo tuổi.
Nghề nghiệp của bệnh nhân cũng cần chú ý: bệnh nhân làm một nghề lý thú không cần bỏ việc, trái lại cần nghỉ ngơi trong các bệnh ảnh hưởng thể lực, mệt nhọc nhiều.
2.         Tiết chế
Tất cả mọi người đều đồng ý không có một chứng cớ nào cấm mỡ, hoặc cho một chế độ ăn nghèo calo và nhạt nhẽo. Vì vậy:
-           Khi còn chán ăn: ít mỡ, nhiều đường. Tốt nhất là hoa quả, nước sắc nhân trần.
-           Khi muốn ăn: chế độ ăn tự do, thích gì thì ăn nấy, tuỳ theo khẩu vị từng người (kể cả trứng và sữa). Cung cấp đầy đủ calo làm ngắn giai đoạn mệt mỏi, hạn chế gầy gò.
-           Chi cấm uống rượu ít nhất là 6 tháng đối với thể thông thường.
VI.       PHÒNG BỆNH
A.        ĐỐI VỚI VIÊM GAN A
Chủ yếu lây theo đường tiêu hoá
-           Giai đoạn nhiễm trùng máu ngắn ở vào cuối thời kỳ nung bệnh cùng với thời kỳ thải trừ virus trong phân. Do đó trước khi được chẩn đoán thì đã lây bệnh tối đa rồi. Điều tra nhân dân nhiều nước trên 40 tuổi tỷ lệ mắc bệnh rất cao: 90% nhân dân có kháng thể kháng viêm gan A.
-           Các phương sách thông thường về vệ sinh: cũng như các bệnh truyền nhiễm lây bằng phân,
Việc tăng cường vệ sinh là yếu tố rất quan trọng để giảm tỷ lệ mắc bệnh bằng đường phân - miệng.
Vệ sinh cá nhân: không ăn rau sống, quả xanh, không uống nước lã, rửa tay trước khi ăn.
Vệ sinh phân nước rác
-           Phương sách đặc hiệu:
+ Sử dụng globulin miễn dịch đa giá, còn gọi là Standard.
Liều 0,l ml/kg đảm bảo bảo vệ tối thiểu 3 tháng và phải tiến hành một miễn dịch chủ động tiếp theo.
Có thể gây miễn dịch thụ động: tiêm y globulin đa giá 16 5% liêu lượng 5ml, tiêm trong vòng 7-10 ngày sau khi bị nhiễm mới có kết quả).          
+ Nếu nhiễm bệnh đã lâu so với tiêm kháng thể thụ động thì không ngăn ngừa được mắc bệnh nhưng giảm nhẹ bệnh.
-           Miễn dịch chủ động: vacxin đang nghiên cứu
B.         ĐỐI VỚI VIÊM GAN B
Có khoảng 200 triệu người trên thế giới mang kháng nguyên của viêm gan B và khoảng 25% chết do xơ gan và ung thư gan. Virus B có thể lấy bằng nhiều đường:
-           Máu
-           Chất tiết sinh dục, nước bọt
Sự lây bệnh thường do đường ngoài ruột:
-           Truyền máu hoặc các chế phẩm của máu
-           Thẩm phân máu, tuần hoàn ngoài cơ thể
-           Tiêm bằng các dụng cụ nhiễm bẩn, xăm mình, rạch da.
-           Nghiện ma tuý
-           Trong các nước nhiệt đới, còn do côn trùng đốt
-           Còn có thể lây bệnh bằng đường hoa liễu hoặc từ mẹ sang sơ sinh                    
-           Từ mẹ sang sơ sinh hay gặp trong một số vùng.
Phòng bệnh viêm gan virus B bằng nhiều cách:
a. Phòng bệnh không đặc hiệu:
Phải tuyệt đối tôn trọng các quy tắc tối thiểu về vệ sinh ở gia đình không được dùng chung: bàn chải đánh răng, dao cạo râu, khăn mặt.
Ở bệnh viện: khi làm việc có liên quan đến máu phải đeo găng tay, đeo kính
Đối với viêm gan lây theo đường tiêm truyền này, một lượng rất nhỏ huyết thanh cũng đủ để gây nguy hiểm.
Bệnh nhân khỏi bệnh phải có kim, ống tiêm riêng Kim và ống tiêm phải khử trùng bằng cách đun sôi 100° trong 30 phút kể từ khi bắt đầu sôi hoặc hấp khô 160° trong 1 giờ.
Nếu có điều kiện: kim, ống tiêm, các kim lấy máu chỉ dùng một lần loại trừ những người cho máu có HBs Ag (+)
Những người có tiền sử vàng da không cho máu Trước khi cho máu phải tìm HBs Ag bằng các phương pháp đáng tin cậy
Các bác sĩ nhân viên khoa truyền nhiễm, phòng xét nghiệm, khoa thận nhân tạo, khoa huyết học và trung tâm truyền máu phải có chế độ bảo hiểm xã hội, coi bệnh viêm gan virus là một bệnh nghề nghiệp.
Đối với các bác sĩ nha khoa có thể làm lây bệnh cho bệnh nhân nếu trong cổ họng có chứa virus viêm gan.
Các globulin miễn dịch đặc hiệu anti HBs với hàm lượng cao (100 UI/ml) cho một bảo vệ hữu hiệu trong 4-5 tuần.
Hàm lượng 0,08ml/kg tiêm bắp với tối đa là 5ml.
b.         Tiêm phòng
Dùng KN HBs thu được hoặc từ plasma người: của các người lành mang HBs Ag (Hevac B)
Gồm 3 mũi 1ml tiêm bắp khoảng cách 1 tháng, nhắc lại 1 năm sau mũi thứ 3 rồi cứ 5 năm.
Có thể tiêm chủng cho sơ sinh
Miễn địch tối ưu ở phụ nữ < 40 tuổi. Kiểm tra huyết thanh sau tiêm chủng dành cho nam giới và những người > 40 tuổi và những người có nguy cơ bị lây.
Lây mẹ sang con, nặng nhất là trường hợp nhiễm trùng của sơ sinh < 6 tháng với lý do nguy cơ tiến tới mạn tính, mang mạn tính HBV.        
Có thể hoặc một viêm gan cấp ở mẹ 3 tháng cuối của thai nghén hoặc trong giai đoạn chu sinh hoặc ở phụ nữ có mang nhiễm trùng mạn tính,
Nguy cơ của sơ sinh bị nhiễm HBV chừng 85% nếu mẹ có HBs - Ag và HBe Ag.
Nguy cơ ít tuy rằng có, nếu HBe Ag (-) ở mẹ (25%)
Còn tuy theo vùng và tuỳ theo tỷ lệ mắc bệnh của viêm gan B.
Nhiễm ở trẻ em và giai đoạn chu sinh thường gặp
C. PHÒNG VIRUS D
Như phòng bệnh của viêm gan B, tiêm chủng chống viêm gan B.

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com