Cấp cứu loạn nhịp nhanh


Hiểu và điều trị loạn nhịp nhanh là vấn đề cần thiết đề xử trí trong cấp cứu.


-Mọi thể loạn nhịp nhanh, dù cơ chế nào, đều gây các biến loạn huyết động, có nguy cơ trụy mạch.
-Chẩn đoán chỉ chắc chắn khi làm ECG trong cơn.
-Cấp cứu thông thường là tìm cách giảm tần số đập của tim.

I.             CẦN CHÚ Ý
A.            Cần phân biệt:
•             Nhịp nhanh trên thất: thường lành tính tuy không thường xuyên.
•             Nhịp nhanh thất: nặng phải cấp cứu khẩn trương.
B.            Lâm sàng: Lấy mạch và nghe tim giúp ta phân chia được 2 loại:
-              Nhịp nhanh đều;
-              Nhịp nhanh không đều;
Sự có mặt hay không của huyết áp và trụy mạch là 2 triệu chứng nói lên sự chịu đựng của cơ thể đối với loạn nhịp.
C. Cơ thể chịu đựng được hay không là tuỳ thuộc vào:
-              Mức độ nhanh của cơn
-              Týp ECG ghi được
-              Chức năng cơ tim, liên quan với bệnh cơ tim mắc phải.
D. Không nên quên: khi có nhịp nhanh là phải cấp cứu ngay và tránh cho cơ thể không dung nạp nổi.


Đừng bao giờ quên chẩn đoán nhồi máu cơ tim trong khi người bệnh, đang mắc hoặc đang lui bệnh, nhịp nhanh không chịu đựng nổi.

 

II. CHẨN ĐOÁN LÂM SÀNG LOẠN NHỊP NHANH


A. Hỏi bệnh:
Đây là cách duy nhất khi khám ngoài cơn.
1.            Người bệnh tường thuật:
a.            Cơn bắt đầu:
-              Đột ngột như tiếng máy đang kêu bị chặn lại
-              Hoặc dần dần;
-              Thấy tim đập mạnh và nhanh
b.            Đáp ứng chịu đựng loạn nhịp nhanh vãi mức độ khác nhau:
-              Thần kinh thực vật: lo âu, đau ngực, nôn, thỉu
-              Huyết động: dấu hiệu suy tim
c.             Độ dài cơn: Từ vài phút đến vài giờ
d.            Kết thúc cơn: Cũng đột ngột, bệnh nhân tự biết, hoặc sau một lần đi giải nhiều.
2.            Bệnh cảnh đa dạng, rất dễ nhầm, nhất là khi:
-              Có cơn đau thắt ngực điển hình, mặc dầu không gắng sức không đỡ khi dùng trinitrine..
-              Thoáng mất ý thức
-              Hoặc phù phổi cấp
-              Hoặc nghẽn mạch ngoại biên
Xuất hiện dấu hiệu trên chứng tỏ sắp có cơn nhịp nhanh.
3. Tiền sử: Cần xác định ở bệnh nhân:
-              Có tăng huyết áp cấp, bệnh van tim, bệnh mạch vành
-              Đang có bệnh phải điều trị (phải kiêng ăn, hoặc dùng tinh chất giáp trạng, digitalin).
-              Hoặc dùng chất kích thích: chè, café, rượu, thuốc lá.
B.            Khám lâm sàng
•             Tần số tim đập: từ 120 - 200 nhịp/phút, tuỳ thể loạn nhịp nhanh.
•             Tĩnh mạch cổ đập, có thể phân ly với mạch quay hoặc tiếng tim, biểu hiện của phân ly nhĩ thất.
•             Nghe tim: có nhịp 4 thì do tâm thất bóp không đồng bộ. làm QRS rộng ra.
•             Tìm các dấu hiệu suy tim
-              Có khó thở liên tục hay không
-              Phổi có ran âm ở đáy
-              Gan to đau Với phản hồi tĩnh mạch cổ - gan
-              Phù ngoại biên
•             Kích thích phó giao cảm:
-              Nghiệm pháp rất dễ để phát hiện cơn nhịp nhanh,
-              Phải làm song song với ghi điện tim
Có thế làm:
-              Ấn nhãn cầu hai bên trong 20-30 giây, ấn cho đến khi bệnh nhân thấy đau mới có tác dụng (trừ người già sợ bong võng mạc)
-              Xoa bóp xoang cảnh: Thường làm ở một bên, đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu quay sang bên, dùng tay ấn vào bờ trên của sụn giáp trong 25-30 giây, theo dõi thấy nhịp tim chậm lại dần thì thôi.
Phải dè chừng, sẽ có thiếu máu não kèm theo nếu có tác dụng phó giao cảm kéo dài.
•             Đặc điểm lâm sàng của cơn nhịp nhanh: Phân biệt 5 loại lớn:

 

Khởi phát

Tần số

Dung nạp huyết động

Phân ly quay cảnh

Kết thúc:

Ấn nhãn
Cầu

Cơn nhịp nhanh bộ nối
(Bouveret)

đột ngột
(cảm động)

200/phút

Tốt

Không

đột ngột
+
thở nhanh

Luật có hoặc không có gì cả

Rung
nhĩ

+ từ từ thường đột ngột      

100-200/phút

Thay đổi

+

từ từ

Chậm lại

Cuồng động nhĩ 2/1

Âm ỉ

150/phút

±
Tốt

2
1

âm ỉ

Chậm lại

Cơn nhịp
nhanh nhĩ

thay đổi

100-
140/phút

Thay đổi

2
1

thay đổi

Chậm lại

Cơn nhịp nhanh thất

đột ngột

Trung bình 160/phút 150-250/ phút

Trụy mạch xấu        

+ + +

 

Không

III.           CHẨN ĐOÁN ĐIỆN TIM
Các cơn nhịp nhanh đã được biết rõ nhờ 3 tính chất:
•             Phúc hợp tâm thất đều hay không
•             Hình thái phức hợp tâm thất:
-              mảnh : dưới 0,12 giây
-              to : trên 0,12 giây
•             Hoạt động của tâm nhĩ : Là sợi chỉ xuyên suốt trong chẩn đoán cơn nhịp nhanh. Phải biết tìm sóng p, đặc biệt chuyển đạo V1 gần nhĩ phải ở đó p rõ nhất hoặc chuyển đạo VR vì bình thường P âm nhưng nếu bệnh lý : P dương. Trường hợp khó, sóng nhĩ có thể được ghi bằng chuyển đạo thực quản, bằng xông đặt qua mũi, cách lỗ mũi 30-40 cm. Mối tương quan giữa P và QRS giúp ta phân biệt 2 loại nhịp nhanh :
-              Không có phân ly nhĩ thất : Mỗi P có 1 QRS kèm theo. Đó là nhịp nhanh trên thất.
-              Có phân ly nhĩ - thất:
+ Hoạt động nhĩ lớn hơn hoạt động thất, đó là :
Rung nhĩ
Cuồng nhĩ
Nhịp nhanh nhĩ.
+ Hoạt động thất lớn hơn hoạt động nhĩ là : Nhịp nhanh thất, đặc biệt khi có nhịp nhanh trên thất kèm blốc nhĩ - thất.
Vì vậy, việc đầu tiên là phải xem tần số và hình thái của tâm thất, tương quan với tâm nhĩ để phân loại nhịp nhanh.
A.  Phức hợp thất đều
Dựa vào hình thái này ta chia ra 2 loại nhịp nhanh :
•             Phức hợp QRS mảnh: Không có hiện tượng co không đồng bộ của thất, cơn co xuất hiện ở trên thất.
•             Phức hợp QRS rộng (lớn hơn 0,12s) : Có hiện tượng co không đồng bộ và rối loạn tái cực thứ phát của thất.
1.            Nhịp nhanh đều Với QRS mảnh nhỏ hơn 0,12 giây
a.            Cơn nhịp nhanh xoang : Xác định bởi :
-              Sóng p bình thường và đều, QRS mảnh đều
-              PR bình thường
-              Sóng p chồng vào sóng T
-              ST thường chênh xuống nhưng không phải bệnh mạch vành
-              Tần số 140/phút : nếu cao quá nên nghĩ tới nhịp nhanh nhĩ 2/1
Đôi khi khó chẩn đoán vì kèm theo blốc nhánh phối hợp: Cần ghi bằng chuyển đạo thực quản hoặc qua buồng nhĩ phải để thấy rõ hoạt động của nhĩ.
b.            Nhịp nhanh bộ nối : Rất thường gặp, đặc biệt ở người trẻ (bệnh Bouveret):
•             Bệnh liên quan tới kính thích của nút, tương ứng với nhịp đảo hoặc kích thích quá sớm (hội chứng Wolf - Parkinson - White) hoặc theo đường dẫn truyền phụ.
•             Sóng p khó nhìn thấy nên phải tìm :


âm ở D2D3VF dương ở V1

 

Sóng p có thể đi trước, sau, hoặc lẫn vào phức hợp QRS
•             Mỗi QRS tiếp theo phức hợp nhĩ p trong tỷ lệ không đổi.
•             Có thể kết hợp với blốc nhĩ thất ngược dòng (bloc auriculo - ventriculaire rétrograde. tức theo đường dẫn truyền ngược lại.
c.             Cuồng động nhĩ: Xác định bởi:
•             Không còn đường đẳng điện và đoạn nghỉ giữa hai sóng kế tiếp
•             Sóng p rất nhanh, không nhận dạng được, gọi là sóng "F', tần số 300/phút, hình dạng như răng cưa.
Đặc biệt rõ và âm ở D2 D3 VF, dương ở V1 V2 Nhịp thất ổn định, đều, chậm, còn nhịp nhĩ nhanh hơn 2, 3, 4 lần (2/1, 3/1, 4/1) nghĩa là kích thích nhĩ 2, 3,4 lần mới đến thất 1 lần
Thường gặp cuồng động nhĩ 2/1


Mọi nhịp nhanh đều khoảng 150/ phút đều phải nghĩ trước tiên đến cuồng động nhĩ.

Cuồng động nhĩ 1/1 ít gặp ở người lớn và khó dung nạp hơn.
d.            Nhịp nhanh nhĩ hoặc cơn nhịp nhanh nhĩ thu: Xác định bởi:
•             Tẩn số nhĩ từ 130 - 210/phút
•             Sóng p thay đổi, phụ thuộc điểm kích thích ở nhĩ
•             Sóng nhĩ cách đều nhau và luôn trở về đường đẳng điện
•             Nhịp thất đều, liên quan với blốc nhĩ thất thường gặp phân ly 2/1, với QRS mảnh, đôi khi rộng.
2.            Nhịp nhanh đều với QRS rộng lớn hơn 0,12 giây
a.            Nhịp nhanh thất thể thông thường: Xác định bởi:
-              Tần số nhanh 150 - 220/phút
-              Các QRS giãn rộng trên 0,12 giây
-              Luôn luôn có rối loạn tái cực với sóng T đảo ngược
-              P bình thường, 70-80 lần/phút


Đặc điểm của nhịp nhanh thất là thường có phân ly nhĩ –thất

Cũng có lúc không đều, do 2 hiện tượng sau đây làm sóng p dẫn một nhịp thất:
•             Bắt nhịp thất đơn thuần (capture ventriculaire pure): Là khi xung động nhĩ xuất phát từ trên thất đi xuống thì gặp QRS và bắt nhịp cùng đi.
•             Hoặc phức hợp trộn (complexe de fusion): Trên nền phức hợp thất rộng và biến dạng, có 1 phức hợp thất khác ít biến dạng hơn (capture impure).


Phân ly nhĩ thất
Bắt nhịp thất hoặc Phức hợp trộn là đặc điểm của nhịp nhanh thất

b.            Nhịp nhanh 2 chiều: Là nhịp nhanh trong đó QRS đảo ngược chiều xen kẽ nhau, gặp trong ngộ độc digitalin. Có thể nhầm với nhịp nhanh trên thất có blốc nhánh, nhịp nhanh trên thất có nhịp đôi, hoặc nhịp nhanh thất có rối loạn dẫn truyền trong thất.
c.             Nhịp nhanh thất chậm: Là nhịp nhanh riêng của thất, thành chùm đập 60-100/phút, do suy giảm hoạt động xoang và có thể kích thích bằng atropin được.
d.            Nhịp nhanh xoắn đỉnh:  Đây là một kiểu nhịp nhanh thất đặc biệt, phải chẩn đoán đúng, vì điều trị khác nhau, có nguy cơ chết đột ngột do ngất hoặc rung thất.
Cơn bắt đầu bằng 1 ngoại tâm thu thất xuất hiện sau sóng T, kế đó là nhiều phức hợp thất khác nhanh (150-220/phút), biên độ tăng dần rồi giảm, và đảo ngược, cứ 5-10 phức hợp, làm cho hình dạng điện tâm đồ xoắn vặn quanh đường đẳng điện.
Phải tìm các nguyên nhân:
-              Hạ Kali máu, hạ Mg máu
-              QT dài trên ECG trước, trên, khoảng 0,60 giây và nhịp chậm
-              Có bệnh mạch vành đã hoặc chưa điều trị
-              Dùng thuốc kéo dài QT: Quinidin, phénylamin Việc phân chia 2 loại nhịp nhanh đều như trên do
chúng có tiên lượng và điều trị khác nhau. Nhịp nhanh trên thất với QRS mảnh được điều trị cấp cứu thuận lợi. Trường hợp khó phân biệt hai loại nhịp nhanh, phải làm thêm:
-              Điện thế bó His, hoặc
-              Ghi điện thế trong buồng nhĩ phải
để làm rõ sóng P mới hy vọng có chẩn đoán chính xác
B. Phức hợp thất không đều
1.            Rung nhĩ
Sóng P thay thế bằng sóng F, tần số 400-600/phút, biên độ hẹp. Đó là những sóng nhỏ, không đều cả hình dáng và biên độ, đôi khi khó nhìn thấy mà phải qua chuyển đạo phải và trước tim V1V2 mà ở đấy sóng p rộng và nhanh hơn.
Các phức hợp thất cũng không đều nhưng QRS hoàn toàn mảnh.
Cần phân biệt:
a.            Rung nhĩ sóng lớn, sóng F rõ
b.            Rung nhĩ sóng nhỏ, sống F lăn tăn
c.             Rung nhĩ cuồng động nhĩ, có hình thái trung gian. Từng hình thái của nhịp thất, mà ta có thể phân loại:
•             Loạn nhịp nhanh hoàn toàn do rung nhĩ, nhịp thất từ 150 - 200/phút, đôi khi khó dung nạp.
•             Loạn nhịp chậm hoàn toàn do rung nhĩ.
•             Loạn nhịp hoàn toàn do rung nhĩ, nhịp thất đều và chậm, gần 60/phút.
•             Trong loại thứ ba, nếu có blốc nhánh do tổn thương thì QRS giãn rộng.
2.            Rung thất:
Việc tìm thấy rung thất không còn nằm trong phạm vi nhịp nhanh mà là ngừng tim - tuần hoàn. Rung thất cũng thường là hậu quả của nhịp nhanh thất.
Điện tâm đồ là những sóng nhanh, không đều.


Không có phức hợp thất, không có phức hợp nhĩ.

Tần số: 150-350/phút Có 2 loại:
-              Rung thất cương (tonique): sốc điện hiệu quả.
-              Rung thất trước hấp hối: Thường đưa tới ngừng tim


Cấp cứu loại này phải hòi sức tim - tuần hoàn ngay

 

IV.          XỬ TRÍ LOẠN NHỊP NHANH


•             Mọi cơn nhịp nhanh là cấp cứu nội khoa.
•             Thuốc chống loạn nhịp khó chọn, có thể không công hiệu hoặc nguy hiểm.
•             Sốc điện tốt đối với thể nặng và trơ; là một phương pháp điều trị tốt, nhanh, không thô bạo và đôi khi trừ tận gốc.
A.            Cơn nhịp nhanh bộ nối
Trước hết phải làm:
-              Đặt bệnh nhân nằm lại;
-              Cho an thần: Hydroxyzin (Atarax) 1 ống tiêm bắp (100 mg) Làm ngừng cơn bằng những cách sau:
1.            Phương kế "nhỏ":
-              nuốt nhanh một miếng bánh, và uống ngay cốc nước lạnh,
-              ngậm miệng thở ra mạnh.
Thường bệnh nhân biết mình làm kiểu nào có ích.
2.            Nghiệm pháp phó giao cảm:
-              Xoa bóp xoang cảnh,
-              Ấn nhãn cầu
3.            Tiêm ATP(Striadyne):
-              Đó là chất cường phế vị, tiêm phải có máy theo dõi
-1 ống ATP 20 mg, không pha loãng, tiêm tĩnh mạch nhanh nếu là bệnh nhân trẻ (bệnh nhân già tiêm: 1/2 ống)
-              Trong 30 giây, bệnh nhân sẽ cảm thấy nóng mặt và hết nóng mặt sau đó 15 phút: Cơn nhịp nhanh đỡ.
-              Trên ECG thấy nhịp trở lại bình thường.
-              Nếu không hết, ấn nhãn cầu lần nữa, có thể tốt.
4.            Tiêm thuốc ức chế kích thích cơ (bathmotrope négatií):
Vérapamil (Isoptine); chống chỉ định nếu bệnh nhân đang dùng thuốc chẹn bêta.
-              1 ống Vérapamil 5mg tiêm tĩnh mạch chậm, nhắc lại sau đó 10 phút nếu không đạt kết quả.
-              Sau đó truyền nhỏ giọt 3 ống Vérapamil trong 250 ml huyết thanh đẳng trương trong 8 giờ.
-              Thời gian không truyền: Cho uống viên Vérapamil (1 viên cho 2 giờ trước khi hết truyền).
Nếu thấy huyết áp hạ, QRS rộng, ngừng dùng thuốc ngay.
B. Cuồng động nhĩ
1.            Digitalin: Dạng Cédilanide làm chậm nhịp thất.
-              2 ống Lanatoside C (Cédilanide. tiêm tĩnh mạch, có thể nhắc lại sau 12 giờ.
2.            Nếu không kết quả, dùng:
-              Amiodarone (Cordarone. hoặc Vérapamil (Isoptine. công hiệu khi chức năng thất còn tốt.)
-              Sốc điện, 95% kết quả
-              Cuồng động nhĩ 1/1 phải cấp cứu bằng sốc điện.
-              Chống đông: Khi cuồng động dai dẳng quá 24 giờ.
-              Nếu dùng thuốc không kết qủa mà bệnh viện có điều kiện để kích thích nhĩ phải với tần số cao (400 lần/phút), 80% kết quả.
Khó khăn thực sự là: Tránh tái phát,
c. Nhịp nhanh nhĩ thu
Điều trị giống cuồng động nhĩ nếu không có ngộ độc digitalin.
Nếu bệnh thứ phát sau dùng digitalin thì phải:
-              Ngừng thuốc ngay
-              Chống hạ kali bằng muối kali uống (Soludacton)
D.            Cơn nhịp nhanh do rung nhĩ
•             Nếu đáp ứng được, cho dùng:


-              Cédilanide (2 ống)
-              Hoặc Cordarone (5 mg/kg)
-              Hoặc Isoptine (5-10 mg)

tiêm tĩnh mạch chậm trong 5-10 phút

•             Nếu không đáp ứng được:


-              Sốc điện: 300-400 joule trong 2 mili - giây
-              Vào viện

 

E.            Cơn nhịp nhanh thất
1.            Sốc điện ngoài lồng ngực: Làm ngay, rất tốt và công hiệu.
2.            Tiêm tĩnh mạch các thuốc sau đây với điều kiện bệnh nhân chưa dùng thuốc chống đông trước đó, lựa chọn theo 3 tiêu chuẩn sau:
-              Tiêm tĩnh mạch được
-              Tính giảm co bóp ít nhất
-              Thải trừ nhanh
a.            Lidocaine (Xylocaine 2% non adrénalinée, Xylocard): Thuốc hàng đầu, vì tính không co cơ (ít), thải trừ nhanh, nhưng tác dụng ngắn, nên sau vài phút phải có thuốc khác và sốc điện.
•             Liều: (1 ống = 400 mg = 20 ml)
-              Tiêm tĩnh mạch nhanh từng 2 ml một, không pha loãng.
-              Rồi truyền 400 mg trong 250 ml huyết thanh ngọt đẳng trương, XV - XX giọt/phút
b.            Amiodarone (Cordarone): Rất nhạy trong cấp cứu nhưng thường hướng âm tính.
•             Liều: (1 ống = 140 mg = 3ml)
Tiêm tĩnh mạch nhanh: từng ml một.
Rồi truyền 300 mg (2 ống): trong 250 ml huyết thanh ngọt đẳng trương, XV - XX giọt/phút.
c.             Flécainide (Flécaine): Chống loạn nhịp. Tác dụng giống amiodarone trong cấp cứu, và cao hơn lidocaine.
•             Liều (1 ống = 4ml = 40 mg)
-              Tĩnh mạch nhanh 2 ml pha loãng trong 10 ml huyết thanh ngọt đẳng trương.
-              Truyền nhỏ giọt 2 ống trong 250 ml huyết thanh ngọt đẳng trương, XV - XX giọt/phút.
Giảm 1/2 liều nếu có suy tim, suy thận.
d.            Thuốc chống loạn nhịp mới:
-              Cibenzoline (Cipralan)
-              Propafénone (Rythmol)
e.            Tosylate de bretylium (Brétylate): Dùng khi các thuốc trên không có hiệu quả. Khi dùng phải có máy theo dõi ECG và huyết áp.
•             Liều:. (1 ống = 2ml = 100 mg)
-              Tiêm tĩnh mạch nhanh 20 mg pha loãng trong 100 ml
-              Rồi truyền liên tục 200 mg trong 250 ml ngọt đẳng trương.
3.            Dù là dùng thuốc gì, nếu bệnh không giảm cũng không nên thêm nhiều, mà phải chuyển sang sốc điện.
4.            Trong những ca nặng:
Kích thích buồng tim, nếu hết loạn tim là điều trị công hiệu, tái phát ít.
5.            Sau khi dùng thuốc sẽ có 3 trường hợp xảy ra:
a.            Ngừng tiêm nếu thấy:
-              Tụt huyết áp
-              QRS rộng ra, nguy cơ rung thất
b.            Tiêm không kết quả: Nên tiêm nhắc lại Lidocaine lần nữa, nếu vẫn không kết quả, chuyển sang sốc điện.
c.             Tiêm có kết quả: Có thể thấy giảm từ từ hoặc đột ngột thì sau đó cần làm thêm:
•             Dùng thuốc chống loạn nhịp bằng truyền liên tục, có hiệu quả trong giai đoạn cấp cứu.
•             Về lâu dài: Phải phòng bằng cách cho uống thuốc. Nên dò liều và dò tính thích hợp của thuốc trong số những thuốc: Amiodarone, flécainide, propafénone, Cibenzoline.
Nếu ngoại tâm thu thất thành chùm phải cấp cứu như trên, đặc biệt khi có nhồi máu cơ tim hoặc ngộ độc cấp digitalin.
Nếu mọi phương pháp trên không thành công, hướng điều trị hy vọng là phẫu thuật hoặc phá ổ kích thích bằng điện.
F.            Rung thất
1.            Chỉ có một cách duy nhất: Sốc điện
-              Liều phải đủ: 300 - 400 joule cùng lúc
-              Làm càng sớm càng tốt. Kết hợp thông khí hỗ trợ bằng oxy đơn thuần và xoa bóp ngoài lồng ngực.
2.            Có 3 trường hợp xảy ra sau sốc điện:
a.            Trở lại nhịp xoang: Cần phòng tái phát tiếp theo ngay bằng thuốc.
b.            Trở thành vô tâm thu: thường là sốc điện muộn, cơ thể quá thiếu oxy và toan chuyển hóa lâu.
c.             Thất bại: Do bệnh chuyển thành thể rung thất nhược,
không hồi phục, phải làm thêm:
-              Kiềm hóa máu cho bệnh nhân
-              Thông khí oxy đơn thuần
-              Xoa bóp tim ngoài, truyền thuốc hồi sức để chuyển thành rung thất cương trước khi sốc điện lại.


Hiện nay có thề cứu được:
-Mọi rung thất do tai nạn.
-              Các rung thất nguyên phát của suy vành cấp.

G.           Xoắn đỉnh
Phải làm:
-              Ngừng thuốc ức chế kích thích cơ (bathmotrope négatif)
-              Chống hạ Kali và Mg.
-              Tăng nhịp thất bằng truyền dịch tĩnh mạch.
-              Dùng sunfat Mg (2 ống trong 250 ml huyết thanh đẳng trương).

 

 

TÓM TẮT PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ LOẠN NHỊP NHANH


1.            Phải biết các loại nhịp nhanh và mức trầm trọng của nó.
2.            Nếu ở mức trên tâm thất thì dùng
An thần (Atarax)
Dùng thuốc hoặc động tác kích thích phó giao cảm hoặc digitalin (Striadyne, Cédilanide)
3.            Ở mức tâm thất:
- Sốc điện nếu nhịp nhanh không dung nạp được, bằng không phải dùng thuốc chống loạn nhịp thích hợp nhất.
-Phòng nhịp nhanh thất khi cơn nhịp nhanh có 5 ngoại tâm thu thất trở lên bằng lidocaine 2% truyền tĩnh mạch (rất tốt với những ca có nhồi máu cơ tim)

 

 

Cấp cứu chẩn đoán tình trạng hôn mê
Cấp cứu cơn co giật
Cấp cứu do suy tế bào gan
Cấp cứu hen ác tính
Cấp cứu hoại thư sinh hơi
Cấp cứu hôn mê do hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường
cấp cứu hôn mê do tăng axit lactic ở bệnh nhân đái tháo đường
Cấp cứu hôn mê do tăng thẩm thấu ở bệnh nhân đái tháo đường
Cấp cứu khái huyết
Cấp cứu loạn nhịp chậm
Cấp cứu loạn nhịp nhanh
Cấp cứu nghẽn mạch phổi
Cấp cứu nhồi máu cơ tim
Cấp cứu nôn ra máu
Cấp cứu phù não
Cấp cứu do phù phổi cấp
Cấp cứu rối loạn kali máu
Cấp cứu suy hô hấp cấp
Cấp cứu suy thượng thận cấp
Cấp cứu tai biến mạch máu não
Cấp cứu tăng huyết áp
Cấp cứu thiếu máu các chi
Cấp cứu thoáng nhận biết hoặc ngất
Cấp cứu tiêu chảy cấp
Cấp cứu trạng thái vật vã
Cấp cứu trụy tim mạch và choáng
Cấp cứu bệnh nhân uốn ván
Cấp cứu hôn mê do toan máu ở người đái tháo đường
Cấp cứu người nghiện ma tuý
Chó cắn
Choáng phản vệ
Xử trí côn trùng đốt
Xử trí, điều trị bệnh nhân bị cóng lạnh
Cấp cứu xử trí bệnh nhân bị điện giật
Hạ thể nhiệt
Xử trí - Điều trị - Ngộ độc cấp
Ngộ độc rượu cấp
Nhiễm độc oxit cacbon (CO)
Rắn cắn
Say nóng
Thắt cổ
Xử trí trước một ban xuất huyết bột phát do não mô cầu

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com