CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC

1. CÁC ĐƯỜNG DÙNG THUỐC

Việc chọn đường dùng thuốc tuỳ thuộc vào tính chất của thuốc và tác dụng mong muốn cũng như tình trạng thể chất, tâm thần của bệnh nhân.

1.1.    Đường miệng

1.1.1.    Uống thuốc

Đây là đường dễ nhất và hay được dùng nhất. Thuốc được đưa qua miệng và nuốt xuống. Với đường dùng thuốc này, khởi đầu tác dụng của thuốc chậm hơn và thời gian kéo dài tác dụng lâu hơn. Hầu hết bệnh nhân thích uống thuốc qua đường miệng.

1.1.2.    Ngậm dưới lưỡi

Những thuốc ngậm dưới lưỡi được thiết kế để có thể hấp thu dễ dàng, nhanh sau khi thuốc tan ra. Không nên nuốt những thuốc này nếu không sẽ không đạt được kết quả mong muốn.

Không nên uống nước cho đến khi thuốc được tan ra hoàn toàn.

Nitroglycerin là thuốc hay được hấp thu qua đường này.

1.1.3.    Đường má

Thuốc được dùng qua đường này bằng cách đặt thuốc cứng vào niêm mạc má cho đến khi thuốc tan hết.

Yêu cầu bệnh nhân không được nhai, nuốt hay uống nước và nên thay đổi má sau mỗi liều thuốc.

Thuốc dùng qua đường niêm mạc má có thể có tác dụng tại chỗ lên niêm mạc hoặc có tác dụng hệ thống khi được nuốt vào nước bọt.

1.2.    Các đường ngoài ruột

Là đưa thuốc vào cơ thể qua một đường tiêm, có 4 cách tiêm:

-    Tiêm dưới da tức là tiêm thuốc vào mô ngay dưới lớp hạ bì của da.

-    Tiêm trong da là tiêm thuốc vào lớp hạ bì, ngay bên dưới lớp biểu bì của da.

-    Tiêm trong cơ là tiêm thuốc vào một cơ của cơ thể.

-    Tiêm tĩnh mạch: đưa thuốc vào tĩnh mạch.

Một số thuốc được tiêm vào khoang cơ thể không qua 4 đường nói trên. Điều dưỡng phải chịu trách nhiệm trong việc theo dõi tác dụng của thuốc và lượng giá đáp ứng của bệnh nhân với liệu pháp. Dưới đây là những kỹ thuật cho bệnh nhân dùng thuốc mà điều dưỡng có thể chịu trách nhiệm.

1.2.1.    Đưa thuốc vào màng cứng

Thuốc được đưa vào khoang màng cứng qua một sonde, do điều dưỡng gây mê hay bác sĩ gây mê đặt. Kỹ thuật này thường dùng để đưa thuốc giảm đau sau phẫu thuật. Những điều dưỡng được huấn luyện về chuyên môn có thể thực hiện thủ thuật này.

1.2.2.    Đưa thuốc vào các khoang dưới nhện

Thuốc được đưa vào khoang dưới nhện qua một sonde. Sonde này được đặt vào khoang dưới nhện hay vào các não thất của não. Phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp dùng thuốc trong một khoảng thời gian dài qua catheter. Thường thì bác sĩ sẽ thực hiện phương pháp này trong lúc phẫu thuật, nhưng những điều dưỡng được huấn luyện đặc biệt có thể làm thủ thuật này.

1.2.3.    Đưa thuốc vào trong xương

Đây là phương pháp truyền trực tiếp thuốc vào trong tuỷ xương. Thường hay được dùng ở trẻ nhũ nhi và trẻ ở độ tuổi mẫu giáo vì những trẻ này khó dùng thuốc bằng đường tĩnh mạch. Ngoài ra phương pháp này hay sử dụng trong các trường hợp cấp cứu khi không thực hiện được đường truyền tĩnh mạch. Bác sĩ làm thủ thuật này, thường là xương chày, qua đó điều dưỡng sẽ đưa thuốc vào.

1.2.4.    Đưa thuốc vào màng bụng

Thuốc được đưa vào khoang màng bụng và sẽ được hấp thu vào tuần hoàn. Thuốc hay được dùng là kháng sinh.

Ngoài ra phương pháp thẩm phân cũng sử dụng khoang màng bụng để rút dịch, chất điện phân và các chất thải. Ở khoa ung thư, người ta thường hay đưa hoá chất qua đường này.

1.2.5.    Vào khoang màng phổi

Thuốc được đưa vào qua thành ngực và đưa trực tiếp vào khoang màng phổi. Phương pháp này có thể thực hiện qua một đường tiêm hay qua một ống ở ngực do bác sĩ đặt. Hoá chất là những thuốc hay được đưa vào đường này nhất.

1.2.6.    Đưa vào mạch máu

Thuốc được đưa trực tiếp vào mạch máu. Truyền vào mạch máu thường được sử dụng trong các trường hợp đông máu trong lòng mạch. Điều dưỡng sẽ quản lý việc truyền liên tục các chất làm tan cục máu.

Các phương pháp khác thường bị hạn chế sử dụng như: đưa thuốc trực tiếp vào mô cơ tim; tiêm thuốc vào trong khớp.

1.3.    Sử dụng thuốc tại chỗ

Những thuốc dán lên da và niêm mạc có tác dụng tại chỗ, thường xoa hay bôi nó lên một vùng da hay có thể ngâm một phần của cơ thể bằng dung dịch hoặc tắm với dung dịch thuốc. Có thể có tác dụng toàn thân nếu da mỏng hay nồng độ thuốc cao hay nếu tiếp xúc da lâu dài.

Phương pháp này hay sử dụng các đĩa dẫn truyền thuốc qua da như nitroglycerin, scopolamin. Với phương pháp này, bảo đảm bệnh nhân có thể nhận được nồng độ thuốc trong máu liên tục hơn trong các trường hợp dùng thuốc bằng đường uống và đường tiêm. Những thuốc này có thể dán tối thiểu là 24 giờ cho đến 7 ngày.

Thuốc có thể được dán vào niêm mạc, với đường này thuốc có thể được hấp thu nhanh hơn.

1.4.    Hít

Đường hô hấp ở sâu có một bề mặt hấp thu thuốc rộng, thuốc có thể được đưa vào qua đường mũi, miệng hoặc qua một ống đặt vào khí quản. Thuốc được hít vào có thể có tác dụng tại chỗ. Những thuốc như gây mê có tác dụng toàn thân.

1.4.1.    Hít vào qua mũi

Thuốc được hít vào qua mũi bởi một thiết bị phân phối thuốc. Thường hay dùng các thiết bị xịt, những thuốc được dùng theo kiểu này là phenylephrin có tác dụng co mạch tại chỗ ở đường mũi, thuốc gây tê tại chỗ, oxy, steroid.

1.4.2.    Hít vào qua miệng

Thường hay sử dụng để phân phối thuốc đến các cơ quan hay tế bào đích trong nhu mô phổi. Có thể dùng phương pháp xịt với liều định sẵn để đưa thuốc vào nhu mô phổi.

Khi bệnh nhân dùng thuốc qua đường này, điều dưỡng phải hướng dẫn bệnh nhân cách sử dụng, đặc biệt là những bệnh nhân quá nhỏ hoặc bệnh nhân già.

1.4.3. Đưa thuốc vào khí quản

Trong các trường hợp cấp cứu, khi bệnh nhân không có đường truyền tĩnh mạch, nhiều thuốc cấp cứu có thể được đưa vào khí quản bệnh nhân. Những điều dưỡng được huấn luyện đặc biệt có thể đưa thuốc vào bằng đường này.

1.5. Đưa thuốc vào mắt

Thuốc được đưa vào mắt qua một đĩa thuốc, đĩa có thể nằm trong mắt bệnh nhân tối đa một tuần. Pilocarpine, là một thuốc được dùng để điều trị tăng nhãn áp, là một loại thuốc đĩa hay gặp nhất. Những thuốc điều trị nhiễm trùng nấm ở mắt cũng được dùng theo cách này.

2. CÁC NGUYÊN TẮC CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC

Việc chuẩn bị thuốc và cho bệnh nhân dùng thuốc, yêu cầu điều dưỡng phải thực hiện chính xác. Điều dưỡng phải tập trung trong lúc chuẩn bị thuốc và không được làm những việc khác. Điều dưỡng phải sử dụng "5 đúng" trong việc cho bệnh nhân dùng thuốc để bảo đảm an toàn.

2.1.    Đúng thuốc

Khi một thuốc được ra y lệnh thì điều dưỡng phải so sánh mẫu giấy ghi thuốc, liều với y lệnh của bác sĩ.

Khi cho bệnh nhân dùng thuốc thì điều dưỡng so sánh nhãn của chai đựng thuốc với mẫu giấy ghi. Điều dưỡng làm việc này trong 3 thời điểm:

-    Trước khi lấy chai khỏi giá.

-    Khi lượng thuốc theo y lệnh được lấy ra khỏi chai.

-    Trước khi đưa chai vào lại vị trí cũ.

Điều dưỡng chỉ cho bệnh nhân dùng những thuốc chính mình đã chuẩn bị. Nếu có sai sót thì người phát thuốc phải chịu trách nhiệm.

Nếu bệnh nhân hỏi về thuốc thì điều dưỡng không được phớt lờ về những quan tâm này. Đối với những bệnh nhân tinh ý thì họ có thể thấy được liều thuốc này có khác với những liều họ đã nhận hay không. Trong hầu hết các trường hợp, các thuốc này được thay đổi theo y lệnh. Tuy nhiên những câu hỏi của bệnh nhân có thể chỉ ra một số sai sót nào đó rất có giá trị. Điều dưỡng phải giữ thuốc cho đến khi thuốc này được kiểm tra lại với y lệnh của bác sĩ.

Những bệnh nhân tự dùng thuốc phải giữ thuốc trong các chai gốc, tách biệt các loại thuốc để tránh nhầm lẫn.

Điều dưỡng không bao giờ chuẩn bị thuốc từ những chai không có nhãn hay các chai dán nhãn không rõ ràng. Nếu bệnh nhân từ chối không dùng thuốc, điều dưỡng không bao giờ được đưa thuốc quay trở lại bình gốc hay bỏ thuốc vào những bình khác. Những thuốc gói có thể được giữ lại nếu chưa mở.

2.2.    Đúng liều

Việc phân phát những thuốc đã định liều làm giảm tối đa những sai sót bởi vì hầu hết thuốc đều được chuẩn bị đúng liều. Khi chuẩn bị thuốc từ một thể tích nhiều hơn hay ít hơn lượng cần hay khi

bác sĩ ra y lệnh một dụng cụ đo lường khác với các dụng cụ của các nhà sản xuất thuốc thì khả năng sai sót sẽ tăng lên. Trong những tình huống này, điều dưỡng nên kiểm tra sự tính toán liều với những điều dưỡng khác. Ví dụ trong một số đơn vị khi sử dụng một số thuốc, yêu cầu hai điều dưỡng phải kiểm tra liều insulin và thuốc chống đông.

Sau khi tính toán liều, điều dưỡng phải sử dụng các dụng cụ đo lường chuẩn. Ví dụ những thuốc dùng trong khoa nhi thường được đo lường bằng giọt. Dần dần, được thay bằng cốc, syringe và những muỗng được thiết kế đặc biệt để đo lường thuốc chính xác.

Để bẻ đôi những viên thuốc cứng thì dùng sống dao để chấn, sau đó bẻ bằng ngón tay, nếu những viên nào không được bẻ bằng nhau thì phải vứt đi.

Thường thì chuẩn bị một thuốc bằng cách nghiền bởi một dụng cụ sạch sau đó trộn lẫn vào thức ăn. Phương pháp này có thể sử dụng khi bệnh nhân có khó khăn trong việc nuốt và việc tiêm là không cần thiết và không muốn. Những dụng cụ dùng để nghiền phải luôn sạch trước khi nghiền thuốc. Vì có thể phần còn thừa của viên thuốc được nghiền trước đó có thể làm tăng nồng độ thuốc và dẫn đến bệnh nhân sử dụng một phần thuốc mà không được kê đơn.

2.3.    Đúng bệnh nhân

Một bước quan trọng trong việc cho bệnh nhân dùng thuốc an toàn là bảo đảm rằng thuốc được đưa đúng bệnh nhân.

Điều dưỡng thường chịu trách nhiệm đưa thuốc cho nhiều bệnh nhân. Có nhiều bệnh nhân giống nhau về tên và điều dưỡng không thể nhớ hết tên và mặt của họ được. Để tránh nhầm lẫn thì điều dưỡng phải hỏi tên bệnh nhân.

Khi hỏi tên, điều dưỡng không nên nói tên và nghe bệnh nhân trả lời xem có đúng không. Thay vào đó, điều dưỡng yêu cầu bệnh nhân nói đầy đủ tên của họ.

Những bệnh nhân tự dùng thuốc ở nhà phải được cảnh báo là không được cho các thành viên trong gia đình hay bạn bè thuốc của mình. Phải hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi có ý định đưa đơn thuốc cho người khác dùng, bởi vì thuốc có thể an toàn đối với người này nhưng lại nguy hiểm đối với người khác.

2.4.    Đúng đường

Nếu một y lệnh thuốc không có đường dùng thì điều dưỡng phải tham khảo với bác sĩ hay nếu một đường dùng nào đó không đúng như thường lệ thì phải hỏi lại bác sĩ ngay.

Khi sử dụng thuốc bằng đường tiêm thì đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm đúng đường. Khi tiêm các dung dịch được sử dụng cho đường miệng có thể sinh ra các biến chứng tại chỗ như apxe vô trùng hay các hậu quả chết người. Các hãng thuốc phải dán những thuốc dùng ngoài đường ruột rằng: "Chỉ dùng bằng đường tiêm".

2.5.    Đúng giờ

Điều dưỡng phải biết tại sao một thuốc được cho y lệnh vào một số giờ nhất định trong ngày và xem có thể thay đổi được hay không.

Ví dụ: Có hai y lệnh thuốc, một là cứ mỗi 8 giờ và một thuốc là 3 lần một ngày. Cả hai thuốc đều được cho 3 lần trong 24 giờ. Y định của bác sĩ là: loại thuốc cho cứ mỗi 8 giờ một lần là phải xoay quanh đồng hồ để duy trì nồng độ thuốc trong máu của bệnh nhân. Ngược lại loại thuốc được cho một ngày 3 lần có nghĩa là thuốc được cho trong giờ bệnh nhân thức.

Bác sĩ thường đưa ra các hướng dẫn đặc biệt về thời điểm cho bệnh nhân dùng thuốc. Thuốc được cho khi có yêu cầu, nghĩa là điều dưỡng sẽ cho thuốc khi có yêu cầu (ví dụ cho thuốc theo yêu cầu của phòng phẫu thuật). Một thuốc có y lệnh sau bữa ăn có nghĩa là cho bệnh nhân dùng thuốc trong vòng nửa tiếng sau bữa ăn, khi bệnh nhân no.

Khi điều dưỡng chịu trách nhiệm cho bệnh nhân dùng nhiều thuốc thì những thuốc phải hoạt động trong những khoảng thời gian nhất định phải được ưu tiên. Ví dụ như insulin phải được cho vào một khoảng thời gian chính xác trước bữa ăn.

Một số thuốc cần sự phán đoán của điều dưỡng để quyết định thời gian dùng thuốc thích hợp. Thuốc ngủ nên được cho lúc bệnh nhân chuẩn bị đi ngủ. Nhiều bệnh nhân nằm viện có thể thích đi ngủ sớm hơn thời gian họ thường ngủ ở nhà. Tuy nhiên nếu điều dưỡng nhận thấy rằng một thủ thuật có thể quấy rối giấc ngủ của bệnh nhân thì họ nên giữ viên thuốc cho đến khi làm xong các thủ thuật. Điều dưỡng cũng có thể sử dụng sự phán đoán trong lúc cho bệnh nhân các thuốc giảm đau. Họ phải đánh giá mức độ đau của bệnh nhân. Nếu phải đợi cho đến khi đau nặng mới cho dùng thuốc thì lúc này tác dụng của thuốc giảm đau có thể không đủ.

3. QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG

3.1. Nhận định

3.1.1.    Bệnh sử

Khai thác bệnh sử tốt sẽ giúp chúng ta biết được tình hình bệnh tật, để từ đó có được các chỉ định và chống chỉ định đối với liệu pháp thuốc.

Ví dụ:

-    Bệnh nhân có bệnh viêm hay loét dạ dày thì các hợp chất có chứa aspirin hay các chất chống đông sẽ làm tăng khả năng chảy máu.

-    Những bệnh nhân đang uống các thuốc đối với các bệnh mãn tính như đái tháo đường hay viêm khớp sẽ gợi ý cho điều dưỡng các loại thuốc mà bệnh nhân đang dùng.

-    Sau khi cắt tuyến giáp thì bệnh nhân cần hormon thay thế.

Từ những bệnh sử này, điều dưỡng có thể yêu cầu y lệnh cho các loại thuốc mà bệnh nhân uống hằng ngày nếu bệnh nhân không được cho y lệnh trước đó.

3.1.2.    Tiền sử về dị ứng

Nếu bệnh nhân có tiền sử về dị ứng thuốc thì điều dưỡng phải báo cho các đồng nghiệp. Những thức ăn gây dị ứng cho bệnh nhân cũng phải được ghi chú đầy đủ vì nhiều thuốc có thành phần được tìm thấy trong thức ăn như tôm, cua,... Những bệnh nhân dị ứng với thức ăn này có thể sẽ dị ứng với bất cứ sản phẩm nào có chứa iod.

3.1.3.    Các thông tin về thuốc

Điều dưỡng đánh giá thông tin về mỗi thuốc bao gồm: cơ chế tác dụng, mục đích, đường dùng, tác dụng phụ và biến chứng của thuốc. Những câu hỏi thường phải suy nghĩ gồm "Đây có phải là liều nhỏ nhất thường được chỉ định không?". Câu hỏi này thường dùng cho những bệnh nhân lớn tuổi hoặc trẻ em.

"Có thuốc nào tương tác với thuốc đang được dùng không và có các hướng dẫn đặc biệt nào trong việc sử dụng thuốc không?". Có nhiều nguồn cung cấp các thông tin về thuốc như sách dược, các báo điều dưỡng, các dược sĩ,...

Điều dưỡng có nhiệm vụ biết càng nhiều càng tốt về các thuốc bệnh nhân đang dùng. Sinh viên điều dưỡng chuẩn bị các bảng tóm tắt về các dữ liệu thuốc để có thể có thông tin nhanh khi cần.

3.1.4.    Tiền sử về chế độ ăn

Cho thấy được kiểu ăn thường ngày của bệnh nhân và thức ăn mà bệnh nhân thích. Từ những thông tin này điều dưỡng có thể khuyên bệnh nhân tránh những thức ăn có thể tương tác với thuốc.

3.1.5.    Tình trạng của bệnh nhân

Xem xét về tình trạng hiện tại về thể chất lẫn tinh thần của bệnh nhân để quyết định xem một thuốc có được dùng hay không, hay nó được đưa vào bằng cách nào.

Ví dụ: Đo huyết áp cho bệnh nhân trước khi cho thuốc hạ huyết áp. Nếu bệnh nhân bị nôn thì thuốc khó có thể vào được dạ dày nên có thể thay đổi đường dùng thuốc. Ngoài ra, đánh giá cũng là nền tảng trong lượng giá hiệu quả của liệu pháp thuốc.

3.1.6.    Sự nhận thức và hợp tác của bệnh nhân

Đối với những bệnh nhân có sự hạn chế về sự nhận thức hay ít hợp tác thì việc tự dùng thuốc là khó khăn.

Điều dưỡng phải đánh giá khả năng của bệnh nhân trong việc chuẩn bị thuốc và uống thuốc. Nếu bệnh nhân không có khả năng tự uống thuốc, điều dưỡng phải xem các thành viên trong gia đình hay bạn bè có sẵn sàng giúp đỡ không?

3.1.7.    Thái độ của bệnh nhân về việc sử dụng thuốc

Thái độ của bệnh nhân đối với việc sử dụng thuốc có thể biểu lộ mức độ phụ thuộc thuốc. Để đánh giá thái độ của bệnh nhân, điều dưỡng phải quan sát hành vi của họ.

3.1.8.    Kiến thức của bệnh nhân và sự hiểu biết về liệu pháp thuốc

Kiến thức và sự hiểu biết của bệnh nhân về liệu pháp thuốc ảnh hưởng đến sự mong muốn và khả năng điều trị. Bệnh nhân chỉ theo một liệu pháp thuốc khi họ hiểu mục đích của thuốc, tầm quan trọng của việc dùng thuốc đúng liều và các phương pháp dùng thuốc thích hợp, tác dụng phụ, các biến chứng. Khi đánh giá kiến thức về thuốc của bệnh nhân, điều dưỡng hỏi bệnh nhân những câu hỏi sau:

-    Dùng thuốc để làm gì?

-    Được sử dụng thuốc như thế nào và khi nào? Đã có tác dụng phụ nào chưa?

-    Đã bao giờ ngừng liều chưa?

-    Có điều gì bạn không hiểu và có muốn biết gì thêm về thuốc không?

3.1.9.    Nhu cầu giáo dục

Bằng cách đánh giá mức độ hiểu biết của bệnh nhân về thuốc, điều dưỡng quyết định sự cần thiết trong việc hướng dẫn bệnh nhân.

Điều dưỡng có thể hướng dẫn về hoạt động, mục đích của thuốc, tác dụng phụ không mong muốn, các kỹ thuật dùng thuốc đúng và cách để nhớ lịch uống thuốc. Nếu bệnh nhân không thể nhớ hết thì có thể cần sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình.

3.2. Chẩn đoán điều dưỡng

Việc đánh giá đã cung cấp các dữ liệu về tình trạng của bệnh nhân, khả năng tự dùng thuốc, điều này có thể xác định các vấn đề hiện tại và tiềm tàng liên quan đến liệu pháp thuốc. Điều dưỡng tập hợp các đặc điểm xác định để có thể có các chẩn đoán đúng.

Những ví dụ về chẩn đoán điều dưỡng đối với liệu pháp thuốc:

3.2.1. Thiếu kiến thức liên quan đến liệu pháp thuốc do:

-    Thiếu sự từng trải và không có kinh nghiệm.

-    Hạn chế về nhận thức.

-    Không tiếp xúc nhiều với các nguồn thông tin.

3.2.2.    Không tuân theo liệu pháp thuốc do:

-    Nguồn kinh tế bị hạn chế.

-    Ảnh hưởng của văn hoá.

-    Niềm tin về y tế.

3.2.3.    Vận động giảm do:

-    Sức mạnh cơ thể giảm.

-    Đau và không thoải mái.

3.2.4.    Lo lắng do:

-    Thay đổi tình trạng sức khoẻ.

-    Thay đổi tình trạng kinh tế xã hội.

3.2.5.    Nuốt khó do:

-    Thần kinh cơ bị suy yếu.

-    Khoang miệng bị kích thích.

3.2.6.    Quản lý liệu pháp ăn uống không hiệu quả do:

-    Tính phức tạp của liệu pháp.

-    Thiếu kiến thức.

3.3. Lập kế hoạch

Điều dưỡng tổ chức các hoạt động chăm sóc để bảo đảm các kỹ thuật dùng thuốc an toàn. Làm không cẩn thận trong khâu này sẽ có thể dẫn đến những sai sót. Để tiết kiệm thời gian, trong lúc cho bệnh nhân dùng thuốc có thể giáo dục về những thuốc mà bệnh nhân đang sử dụng.

Đối với những bệnh nhân tự dùng thuốc, điều dưỡng lập kế hoạch sử dụng các nguồn lực giáo dục có sẵn, đó là các thành viên trong gia đình, bạn bè.

Điều dưỡng phải tìm hiểu các yếu tố về thể chất, tâm thần, kinh tế, xã hội khiến bệnh nhân không có thể tự dùng thuốc. Ví dụ bệnh nhân bị viêm khớp không có khả năng đến quầy thuốc được, điều dưỡng nên giải quyết vấn đề này trước khi bệnh nhân ra viện.

Nếu không có đủ thời gian hướng dẫn thì cung cấp cho bệnh nhân những cuốn sách mỏng để bảo đảm các thông tin có thể đến được với họ.

Kể cả khi bệnh nhân tự dùng thuốc hay khi điều dưỡng chịu trách nhiệm cho bệnh nhân dùng thuốc phải đạt được những mục tiêu dưới đây:

-    Không có các biến chứng liên quan đến đường dùng thuốc.

-    Đạt được hiệu quả của các thuốc.

-    Bệnh nhân và gia đình hiểu được liệu pháp thuốc.

-    An toàn trong dùng thuốc.

3.4. Thực hiện

3.4.1.    Sao chép lại và thực hiện đúng y lệnh

Can thiệp của điều dưỡng tập trung vào việc dùng thuốc an toàn và hiệu quả. Bao gồm việc chuẩn bị thuốc cẩn thận, dùng thuốc đúng và giáo dục bệnh nhân.

Điều dưỡng viết các y lệnh hoàn chỉnh của bác sĩ lên mẫu ghi thuốc một cách thích hợp. Các y lệnh được ghi lại bao gồm: tên bệnh nhân, số phòng, số giường, tên thuốc, liều, giờ và đường dùng thuốc.

Khi chuẩn bị một liều thuốc, điều dưỡng phải nhìn vào đơn thuốc. Khi viết y lệnh, yêu cầu tên, liều thuốc và ký hiệu phải rõ ràng, dễ đọc. Bất cứ chỗ nào bị nhòe hay không rõ ràng thì phải ghi lại.

Ở một số đơn vị, các y lệnh được nhập trực tiếp vào máy nên không cần phải sao chép hay ghi lại y lệnh. Điều dưỡng kiểm tra tất cả các y lệnh được ghi ra so với gốc để xem đã đúng và đầy đủ chưa.

Nếu một y lệnh có vẻ như không đúng hay không thích hợp thì điều dưỡng nên hỏi lại bác sĩ. Điều dưỡng đưa lộn thuốc hay không đúng liều thì phải chịu trách nhiệm về lỗi này trước pháp luật.

3.4.2.    Cách tính và đong liều thuốc

Khi đong các thuốc dưới dạng dung dịch thì phải dùng các dụng cụ đong chuẩn. Kỹ thuật đong thuốc đúng sẽ làm giảm cơ hội mắc lỗi. Điều dưỡng tính liều khi chuẩn bị thuốc, chú ý kỹ càng vào việc tính toán và tránh sự mất tập trung từ các hoạt động của các điều dưỡng khác.

3.4.3.    Cho bệnh nhân dùng thuốc đúng

Điều dưỡng sử dụng các kỹ thuật vô khuẩn và các thủ thuật thích hợp khi cầm và đưa thuốc cho bệnh nhân. Một số thuốc yêu cầu điều dưỡng phải thực hiện đánh giá tại thời điểm cho thuốc, ví dụ đánh giá nhịp tim trước khi cho thuốc chống loạn nhịp.

3.4.4.    Ghi chép việc sử dụng thuốc

Để tránh một số điều dưỡng khác cho bệnh nhân dùng thêm một liều thuốc nữa, điều dưỡng phải ghi lại những thuốc ngay khi cho bệnh nhân dùng.

Ghi lại thuốc đã thực hiện cho bệnh nhân, bao gồm tên thuốc, liều, đường dùng và thời gian chính xác. Ngoài ra điều dưỡng còn cần phải ghi lại vị trí của chỗ tiêm.

Khi không thực hiện được liệu pháp thuốc thì điều dưỡng phải ghi rõ lý do. Một số đơn vị yêu cầu điều dưõng phải vòng lại, ký vào những thuốc đã được kê đơn khi bệnh nhân bỏ liều.

3.4.5.    Giáo dục sức khoẻ cho bệnh nhân

Giáo dục bệnh nhân là vai trò rất quan trọng của điều dưỡng. Có những bệnh nhân dùng thuốc suốt cuộc đời của họ. Ví dụ như bệnh đái tháo đường, để ngăn ngừa biến chứng do đái tháo đường, điều dưỡng phải giáo dục bệnh nhân cách theo dõi đường máu, cách tự tiêm insulin. Biến chứng của đái tháo đường có thể được làm giảm tối đa nhờ vào chế độ ăn và tập thể dục thích hợp, cả hai liệu pháp đòi hỏi điều dưỡng phải giáo dục cho bệnh nhân mới lần đầu được chẩn đoán bệnh.

Thông qua việc giáo dục bệnh nhân và thuốc, điều dưỡng có thể giúp bệnh nhân thay đổi lối sống để có được sức khoẻ tốt nhất.

Nếu bệnh nhân không được hướng dẫn thì họ có thể dùng thuốc không đúng hoặc không dùng.

Điều dưỡng cung cấp cho bệnh nhân những thông tin về mục đích, hoạt động và hiệu quả của thuốc. Ở nhiều đơn vị, các thông tin này có đầy đủ trong các tờ quảng cáo. Tuy nhiên, phải đánh giá khả năng đọc của bệnh nhân trước khi cung cấp những tài liệu này cho họ.

Bệnh nhân phải học cách dùng thuốc đúng và hậu quả của việc thực hiện không đúng liệu pháp thuốc. Ví dụ, điều dưỡng phải dạy cho bệnh nhân tầm quan trọng của việc theo đủ liệu trình thuốc kháng sinh. Nếu không tuân thủ, có thể dẫn đến làm nặng tình trạng bệnh và nặng nề hơn là xuất hiện sự đề kháng của vi sinh vật với thuốc.

Bệnh nhân phải tiêm thuốc hằng ngày thì cần được giáo dục về cách tự dùng thuốc. Bệnh nhân phải học cách chuẩn bị và tiêm thuốc đúng với kỹ thuật vô trùng. Các thành viên trong gia đình cũng phải được giáo dục về điều này để đề phòng trường hợp bệnh nhân đau nặng không có khả năng tự tiêm được.

Đối với những bệnh nhân có hạn chế về khả năng nhìn thì phải cho bệnh nhân những syringe với khấc chia độ lớn để dễ đọc.

Đối với những bệnh nhân lớn tuổi phải tự dùng thuốc thì các hướng dẫn phải nên hết sức cụ thể về liều thuốc, lịch dùng thuốc có thể giúp họ nhớ dùng thuốc thường xuyên.

Bệnh nhân phải phát hiện các triệu chứng về tác dụng phụ hay độc tính của thuốc. Ví dụ bệnh nhân dùng thuốc chống đông phải báo cho bác sĩ khi có triệu chứng chảy máu, bầm tím. Các thành viên trong gia đình cũng phải được giáo dục các thông tin về tác dụng phụ của thuốc như thay đổi hành vi, vì họ là những người đầu tiên nhận ra những tác dụng phụ này.

Tất cả bệnh nhân đều được hướng dẫn cơ bản về an toàn thuốc:

-    Giữ thuốc trong các chai nguyên gốc của nó và có dán nhãn.

-    Nhãn phải rõ ràng.

-    Không dùng những thuốc quá hạn.

-    Phải dùng hết thuốc được kê đơn nếu không có chống chỉ định. Không bao giờ để dành thuốc cho những lần mắc bệnh sau.

-    Vứt thuốc trong bồn rửa chén hay trong toilet. Không vất vào sọt rác, trong tầm tay của trẻ.

-    Không đưa những thuốc đã được kê đơn cho mình cho các thành viên trong gia đình hay bạn bè sử dụng.

-    Để thuốc vào tủ lạnh đối với những thuốc cần làm lạnh.

-    Đọc nhãn cẩn thận và theo tất cả các hướng dẫn trước khi sử dụng.

3.4.6. Duy trì các quyền của bệnh nhân

Vì nguy cơ tiềm tàng liên quan đến việc dùng thuốc nên bệnh nhân có các quyền sau:

-    Được cung cấp thông tin về tên thuốc, mục đích, hoạt động và những tác dụng phụ không mong muốn của thuốc.

-    Chú ý đến các tai biến của thuốc.

-    Yêu cầu một bác sĩ hay một điều dưỡng giỏi đánh giá về giá cả sử dụng thuốc.

-    Bệnh nhân được quyền biết rằng thuốc mà họ đang sử dụng là hợp pháp.

-    Nhận những thuốc được dán nhãn an toàn đúng theo "5 đúng" của việc dùng thuốc.

-    Được nhận sự giúp đỡ đặc biệt liên quan với liệu pháp thuốc.

-    Không nhận những thuốc không cần thiết.

Điều dưỡng phải nhận biết những quyền này của bệnh nhân. Không nên chống đối nếu bệnh nhân không chịu dùng thuốc, phải có kiến thức và kỹ năng trong việc hoàn thành nhiệm vụ cho bệnh nhân dùng thuốc an toàn và hiệu quả.

3.5. Lượng giá

Điều dưỡng cần phải theo dõi đáp ứng của bệnh nhân với thuốc. Để làm được điều này, điều

dưỡng phải biết được cơ chế tác dụng và những tác dụng phụ của mỗi thuốc. Một sự thay đổi trên bệnh nhân có thể là sinh lý liên quan đến tình trạng sức khỏe, cũng có thể do thuốc hay cả hai. Điều dưỡng phải cảnh giác với những phản ứng của bệnh nhân khi bệnh nhân uống nhiều thuốc.

Mục đích của việc dùng thuốc an toàn và hiệu quả bao gồm việc lượng giá cẩn thận về kỹ thuật và đáp ứng của bệnh nhân với liệu pháp và khả năng đảm đương trách nhiệm tự chăm sóc. Để lượng giá hiệu quả của các can thiệp điều dưỡng khi đạt được mục tiêu chăm sóc, điều dưỡng sử dụng các phương pháp lượng giá để xác định các kết quả thật sự.

-    Ví dụ: Các phương pháp lượng giá để xác định không có các biến chứng liên quan đến đường dùng thuốc là:

+ Quan sát vị trí tiêm xem có bầm, viêm, đau tại chỗ và chảy máu không.

+ Hỏi bệnh nhân có tê và ngứa ở vị trí tiêm không.

+ Đánh giá về rối loạn tiêu hóa, bao gồm nôn, buồn nôn và ỉa chảy.

+ Kiểm tra các vị trí tiêm tĩnh mạch xem có viêm không, bao gồm: sốt, sưng tại chỗ tiêm.

-    Ví dụ về hiệu quả của một thuốc kê đơn có đạt được một cách an toàn không, bao gồm:

+ Hỏi bệnh nhân về những đáp ứng mong muốn đối với thuốc, ví dụ như giảm đau hay giảm triệu chứng.

+ Theo dõi về đáp ứng thực thể của bệnh nhân đối với thuốc, ví dụ như những thuốc chống loạn nhịp sẽ điều hoà nhịp tim, thuốc hạ huyết áp sẽ làm huyết áp hạ, thuốc lợi tiểu giúp lượng tăng nước tiểu.

-    Ví dụ về phương pháp lượng giá giúp duy trì sự an toàn và sự dễ chịu của bệnh nhân, bao gồm:

+ Theo dõi về tác dụng phụ và độc tính tiềm tàng của thuốc, phản ứng dị ứng hay các tương tác thuốc.

+ Theo dõi bệnh nhân về các triệu chứng bất thường ít nhất là 30 phút sau khi cho bệnh nhân dùng thuốc.

-    Ví dụ về các phương pháp lượng giá về khả năng hiểu được liệu pháp thuốc, bao gồm:

+ Hỏi bệnh nhân về mục đích, hoạt động, liều, lịch dùng thuốc và tác dụng phụ có thể có.

-    Ví dụ về các phương pháp lượng giá khả năng tự dùng thuốc một cách an toàn:

+ Quan sát bệnh nhân chuẩn bị một liều thuốc theo y lệnh.

4. NHỮNG ĐIỂM LƯU Ý KHI CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC

Mức độ phát triển của bệnh nhân là một yếu tố ảnh hưởng đến việc cho bệnh nhân dùng thuốc của điều dưỡng. Kiến thức về sự phát triển của bệnh nhân giúp điều dưỡng đoán trước đáp ứng với liệu pháp thuốc.

4.1. Trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ

Trẻ em khác nhau về tuổi, cân nặng, diện tích bề mặt da và khả năng hấp thụ, chuyển hoá và bài tiết thuốc. Liều của trẻ em thấp hơn liều người lớn, vì vậy sự thận trọng là rất cần thiết khi chuẩn bị thuốc cho trẻ em. Thuốc thường không được chuẩn bị sẵn, đóng gói sẵn theo một liều chuẩn cho trẻ em. Vì vậy việc chuẩn bị một liều theo y lệnh từ trong một lượng thuốc có sẵn cần phải tính toán cẩn thận.

Cha mẹ trẻ là nguồn nhân lực tốt nhất cho trẻ dùng thuốc. Đôi khi tốt hơn nếu cha mẹ cho trẻ dùng thuốc còn điều dưỡng đứng giám sát.

Tất cả các trẻ nhỏ đều cần sự chuẩn bị tâm lý đặc biệt trước khi nhận một liều thuốc. Đối với những trẻ hợp tác thì điều dưỡng giải thích quy trình cho trẻ bằng những từ ngắn gọn, đơn giản, phù hợp với mức độ hiểu biết của trẻ. Những trẻ nhỏ không hợp tác, không chịu dùng thuốc thì có thể

cần phải áp bức trẻ. Trong những trường hợp như vậy thì phải thực hiện nhanh và chính xác. Ví dụ, điều dưỡng nói: "Bây giờ phải uống thuốc thôi. Cháu muốn uống với nước cam hay nước lọc?". Như thế cho phép trẻ có sự chọn lựa. Điều dưỡng không bao giờ cho trẻ có cơ hội chọn lựa không dùng thuốc. Sau khi trẻ dùng thuốc, điều dưỡng khen trẻ và có thể cho trẻ một món quà nhỏ.

4.2. Người già

Khi cho bệnh nhân lớn tuổi dùng thuốc cũng cần những chú ý đặc biệt. Ở người già có sự thay đổi sinh lý về tuổi tác, các yếu tố hành vi và kinh tế sẽ ảnh hưởng đến việc dùng thuốc của họ.

Những người trên 65 tuổi là những người dùng thuốc nhiều nhất. Điều dưỡng cho bệnh nhân già dùng thuốc phải chú ý tới các kiểu dùng thuốc:

-    Dùng nhiều thuốc: có nghĩa là bệnh nhân dùng nhiều thuốc được kê đơn, hoặc không được kê đơn để điều trị nhiều bệnh xảy ra đồng thời. Lúc này nguy cơ tương tác thuốc với những thuốc khác và với thức ăn rất cao. Ngoài ra còn có nguy cơ tăng tác dụng có hại của thuốc.

-    Dùng những thuốc không được kê đơn: người già thường trải qua các triệu chứng khác nhau, ví dụ như đau, táo bón, mất ngủ, chậm tiêu. Tất cả những triệu chứng này làm bệnh nhân dùng những thuốc để giảm triệu chứng. Những bệnh nhân lớn tuổi thường tìm kiếm sự giảm đau bằng các thuốc dân gian, các dược thảo.

Người ta thống kê rằng có hơn 75% những người lớn tuổi sử dụng các thuốc không được kê đơn. Nhiều thuốc có thành phần mà khi sử dụng không đúng có thể gây ra những tác dụng phụ không mong muốn, phản tác dụng hay có thể chống chỉ định trong tình trạng của bệnh nhân.

-    Dùng sai thuốc: Những dạng dùng sai thuốc ở người già bao gồm: dùng quá, dùng không đủ, dùng không đều, dùng trong các trường hợp chống chỉ định.

-    Không tuân thủ: 75% những bệnh nhân già không tuân thủ liệu pháp thuốc, họ thường hay thay đổi liều vì họ thấy không hiệu quả hay các tác dụng phụ gây khó chịu.

Điều dưỡng sử dụng quy trình điều dưỡng để xác định kiểu sử dụng thuốc của bệnh nhân lớn tuổi. Thời gian cho bệnh nhân dùng thuốc sẽ giúp điều dưỡng thực hiện giáo dục cách dùng thuốc cho bệnh nhân.

EBOOK - SÁCH ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
NHU CẦU CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI
HỒ SƠ BỆNH NHÂN VÀ CÁCH GHI CHÉP
KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
VÔ KHUẨN - TIỆT KHUẨN
CHUẨN BỊ GIƯỜNG BỆNH
CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC
PHƯƠNG PHÁP VẬN CHUYỂN BỆNH NHÂN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN GIỚI TÍNH
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN Ở HỆ TIÊU HOÁ
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN KHI ĐAU
CHĂM SÓC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ
CÁC TƯ THẾ NGHỈ NGƠI TRỊ LIỆU
CHĂM SÓC CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ
ĐO DẤU HIỆU SỐNG
KỸ THUẬT TIÊM THUỐC
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
THÔNG TIỂU
THỤT THÁO
PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP, NGỪNG TUẦN HOÀN
RỬA TAY NGOẠI KHOA (SCRUBBING)
MẶC ÁO VÀ MANG GĂNG TAY VÔ TRÙNG (GOWNING AND CLOSED GLOVING)
KỸ THUẬT BĂNG BÓ
RỬA TAY THƯỜNG QUY
THAY BĂNG, RỬA VẾT THƯƠNG ỐNG DẪN LƯU
CÁCH LẤY MỘT SỐ BỆNH PHẨM ĐỂ LÀM XÉT NGHIỆM
ĐẶT XÔNG DẠ DÀY - RỬA DẠ DÀY
LIỆU PHÁP ÔXY
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC CHỌC DÒ TUỶ SỐNG, MÀNG BỤNG, MÀNG PHỔI VÀ MÀNG TIM
ĐO LƯỢNG DỊCH VÀO - RA
DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC LOÉT ÉP
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ ĐIỆN GIẬT
SƠ CỨU BỆNH NHÂN BỊ TAI NẠN DO NƯỚC
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ TAI NẠN DO NHIỆT
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC ĐẶT CATHETER VÀ ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN
SƠ CỨU GÃY XƯƠNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com