CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN Ở HỆ TIÊU HOÁ

1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TIÊU HOÁ

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bài tiết tiêu hoá. Sự hiểu biết về các yếu tố này giúp điều dưỡng có các phương pháp cần thiết để thực hiện tốt quy trình chăm sóc bệnh nhân.

1.1.    Tuổi

Sự thay đổi về tuổi tác ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá. Trẻ nhỏ có dạ dày nhỏ và tiết ra ít men tiêu hoá. Một số thức ăn như tinh bột khó tiêu hoá. Thức ăn đi qua đường ruột của trẻ nhỏ nhanh vì nhu động ruột nhanh. Trẻ nhỏ không thể kiểm soát được đại tiện vì chức năng thần kinh cơ chưa phát triển cho đến khi trẻ lên 2 hay 3 tuổi. Thời kỳ thanh, thiếu niên có sự phát triển nhanh chóng của ruột già. Tăng tiết acid HCl, đặc biệt ở nam.

Người lớn tuổi thường có sự thay đổi ở hệ thống dạ dày, ruột làm suy yếu chức năng tiêu hoá và bài tiết. Một số người không còn đủ răng, vì vậy ảnh hưởng đến chức năng nhai. Thức ăn đi vào đường tiêu hoá chỉ được nhai một phần và không được tiêu hoá vì lượng men tiêu hoá ở nước bọt và acid dạ dày giảm theo tuổi. Mất khả năng tiêu hoá thức ăn giàu mỡ phản ảnh sự thiếu hụt men lipase. Những người lớn tuổi nằm viện có nguy cơ thay đổi chức năng tiêu hoá. Một nghiên cứu cho thấy 91% người bị tiêu chảy và táo bón trong 33 người nằm viện là ở độ tuổi 76.

Hơn nữa, nhu động giảm theo tuổi và thực quản được làm trống thức ăn chậm đã tạo nên sự khó chịu ở vùng thượng vị. Tính chất hấp thụ của niêm mạc ruột thay đổi đã làm thiếu hụt protein, vitamin và khoáng chất. Những người lớn tuổi cũng mất trương lực cơ ở đáy chậu và cơ vòng hậu môn. Mặc dầu cơ thắt vòng ngoài vẫn còn nguyên vẹn, nên có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát sự bài tiết. Vì xung động thần kinh chậm, một số người không còn nhận thức được cảm giác buồn cầu và vì vậy trở nên táo bón.

1.2.    Chế độ ăn

Thức ăn đưa vào hằng ngày giúp duy trì nhu động bình thường của ruột. Thức ăn ảnh hưởng đến sự bài tiết. Chất xơ, phần còn lại không được tiêu hoá trong thức ăn tạo ra một khối phân lớn. Thành ống tiêu hoá bị giãn ra, tạo ra nhu động và gây nên phản xạ đi cầu. Nhờ việc nhu động ruột, lượng thức ăn đi qua ruột nhanh, giữ cho phân mềm.

Những thức ăn dưới đây chứa một lượng lớn chất xơ:

-    Trái cây sống (táo, cam).

-    Những trái cây chín (quả mận, quả mơ).

-    Rau xanh (cải, rau xanh đậm).

-    Rau sống (cần tây).

-    Ngũ cốc (bánh mỳ).

Các thức ăn sản sinh hơi như là hành, cải hoa, đậu cũng kích thích nhu động. Hơi làm căng thành ruột, làm tăng sự chuyển động của ruột.

Một số thức ăn cay có thể làm tăng nhu động nhưng cũng có thể làm khó tiêu.

Đối với một số người thì một số thức ăn như sữa hoặc các sản phẩm của sữa gây khó tiêu do không dung nạp lactose, một loại đường đơn có trong sữa. Sự không dung nạp đối với một số thức ăn đặc biệt có thể gây nên ỉa chảy, đầy hơi.

1.3.    Lượng dịch đưa vào

Sự cung cấp không đủ dịch, hoặc một số rối loạn như nôn mửa sẽ tạo nên sự thiếu hụt lượng dịch đưa vào, từ đó ảnh hưởng đến tính chất phân. Dịch sẽ làm lỏng các chất trong lòng ruột, làm các chất đó đi qua đại tràng dễ dàng. Người lớn nên uống nước một ngày khoảng 1400 - 2000ml. Các thức uống nóng và nước hoa quả sẽ làm mềm phân và làm tăng nhu động. Ở một số người, uống một

lượng sữa nhiều có thể làm chậm nhu động và gây táo bón.

1.4.    Các hoạt động thể lực

Các hoạt động thể lực làm tăng nhu động trong khi sự mất vận động sẽ kìm hãm nhu động ruột. Hoạt động sớm sau đau ốm được khuyến khích để duy trì sự bài tiết bình thường. Việc duy trì trương lực của hệ cơ xương được sử dụng trong quá trình đi cầu là quan trọng.

Các cơ ở bụng và các cơ ở nền chậu yếu nên khả năng làm tăng áp lực trong ổ bụng giảm và giảm khả năng kiểm soát cơ thắt vòng ngoài hậu môn. Trương lực cơ có thể mất hoặc yếu, là hậu quả của đau mãn tính có ảnh hưởng đến sự dẫn truyền thần kinh.

1.5.    Các yếu tố về tâm thần

Chức năng của hầu hết các hệ thống trong cơ thể đều có thể bị suy yếu do căng thẳng về cảm xúc lâu ngày. Nếu một người lo lắng, sợ hãi hay giận dữ làm tăng nhu động ruột. Tác dụng phụ của tăng nhu động là tiêu chảy, đầy hơi. Nếu một người trầm cảm, hệ thần kinh tự động sẽ làm chậm dẫn truyền và nhu động ruột có thể giảm. Một số các bệnh về đường tiêu hoá có thể liên quan với căng thẳng, những bệnh này bao gồm: viêm ruột, viêm loét dạ dày và bệnh Crohn.

1.6.    Thói quen cá nhân

Các thói quen bài tiết của một người ảnh hưởng đến chức năng của hệ tiêu hoá. Một kế hoạch làm việc bận rộn có thể làm ảnh hưởng đến các thói quen và gây nên những thay đổi như táo bón. Mỗi người nên tìm cho mình một thời gian đại tiện thích hợp. Các phản xạ dạ dày ruột kích thích đại tiện dễ dàng, nhất là sau buổi ăn sáng.

Những bệnh nhân nằm viện khó có thể duy trì thói quen đại tiện bình thường. Phòng vệ sinh phải dùng chung với những người trong phòng, mà những người này có các thói quen vệ sinh khác nhau. Tiếng động, quang cảnh và mùi của phòng tắm chung đó hay việc phải sử dụng bô ở bệnh viện thường gây cho bệnh nhân lúng túng. Sự lúng túng này đã khiến bệnh nhân buồn cầu, không thoải mái.

1.7.    Tư thế trong quá trình đi đại tiện

Ngối xổm là tư thế thích hợp trong quá trình đại tiện. Những nhà vệ sinh hiện đại được thiết kế để làm thuận tiện cho tư thế này, cho phép một người cúi ra phía trước, sử dụng áp lực trong ổ bụng. Tuy nhiên, bệnh nhân lớn tuổi hay bị bệnh khớp như viêm khớp không có khả năng đứng dậy từ chỗ ngồi thấp của nhà vệ sinh. Các thiết bị dùng để nâng cao chỗ ngồi có thể giúp bệnh nhân tự đứng dậy được mà không cần sự giúp đỡ.

1.8.    Đau

Bình thường đi cầu không gây đau. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp như trĩ, phẫu thuật ở trực tràng, lỗ dò trực tràng, phẫu thuật ở bụng và sinh đẻ có thể gây đau. Trong những tình huống này bệnh nhân thường nín đi cầu để tránh đau. Táo bón là một vấn đề hay gặp ở những bệnh nhân đau trong lúc đi cầu.

1.9.    Thai kỳ

Khi cử động và kích thước của thai tăng, áp lực sẽ đè lên trực tràng. Sự tắc nghẽn tạm thời do thai làm ảnh hưởng đến sự di chuyển của phân. Táo bón là một vấn đề hay gặp ở phụ nữ mang thai trong suốt 3 tháng cuối của thai kỳ. Phụ nữ mang thai thường rặn trong lúc đi cầu, là nguyên nhân gây nên trĩ.

1.10.    Phẫu thuật và gây mê

Các chất gây mê nói chung được sử dụng trong quá trình phẫu thuật làm ngưng tạm thời nhu động ruột. Các chất gây mê được hít vào làm ức chế hoạt động phó giao cảm đối với các cơ ở ruột. Việc gây mê đã làm chậm hay làm ngừng các sóng nhu động.

Những bệnh nhân được gây tê vùng hay tại chỗ thì ít có nguy cơ thay đổi bài tiết vì các hoạt động ở hệ tiêu hoá ít hoặc không bị ảnh hưởng. Những phẫu thuật thao tác trực tiếp trên hệ tiêu hoá làm ngừng các nhu động tạm thời. Tình trạng này được gọi là tắc ruột do liệt, thường kéo dài khoảng 24 - 48 giờ. Nếu bệnh nhân không hoạt động sớm sau phẫu thuật, chức năng tiêu hoá bình thường có thể bị ngưng trệ.

1.11.    Thuốc

Có một số thuốc được dùng để hỗ trợ cho việc đại tiện. Thuốc nhuận trường và thuốc tẩy nhẹ có tác dụng làm mềm phân và kích thích nhu động. Mặc dù giống nhau nhưng thuốc nhuận trường có tác dụng nhẹ hơn. Khi thuốc nhuận trường và thuốc tẩy nhẹ được sử dụng đúng thì chức năng bài tiết tiêu hoá vẫn được duy trì an toàn. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc tẩy nhẹ lâu ngày sẽ làm cho đại tràng mất trương lực cơ và đáp ứng kém với thuốc nhuận trường. Thuốc nhuận trường quá liều có thể gây ỉa chảy nặng dẫn đến mất nước và các chất điện giải. Thuốc nhuận trường có thể ảnh hưởng lên hiệu quả của các thuốc khác thông qua việc làm thay đổi thời gian vận chuyển (thời gian thuốc duy trì trong dạ dày ruột).

Những thuốc như dicyclomin HCl (Bentyl) ngăn cản nhu động và được dùng để điều trị tiêu chảy. Nhiều thuốc có tác dụng phụ làm ảnh hưởng đến bài tiết tiêu hoá.

Thuốc giảm đau nacotic làm giảm nhu động nên gây táo bón. Những thuốc kháng cholinergic như atropine hay glycopyrolat ức chế sự tiết acid dạ dày và ức chế chuyển động dạ dày - ruột. Mặc dù có ích trong việc điều trị các rối loạn tăng nhu động, các thuốc kháng cholinergic có thể gây táo bón.

Nhiều kháng sinh gây ỉa chảy do làm rối loạn các chủng vi khuẩn chí bình thường trong ruột. Nếu ỉa chảy trở nên trầm trọng thì cần phải thay đổi thuốc.

1.12.    Các xét nghiệm chẩn đoán

Những xét nghiệm mà cần nhìn thấy các cấu trúc của đường ruột cần phải làm sạch các chất trong lòng ruột. Bệnh nhân không được phép ăn trong đêm của ngày trước khi làm xét nghiệm như thụt tháo bằng barium, nội soi đường tiêu hoá dưới, bệnh nhân thường được cho thuốc tẩy nhẹ hay là thụt tháo. Với một đường ruột sạch như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự bài tiết cho đến khi việc ăn uống bình thường được lập lại.

Các thủ thuật làm xét nghiệm có barium cũng gây rắc rối. Barium đóng khuôn nếu nằm lại trong lòng ruột, điều này có thể gây táo bón hay sự đóng chặt trong lòng ruột. Nên cho bệnh nhân thuốc tẩy giúp bài tiết barium sau phẫu thuật. Nếu không bài tiết được barium thì cần phải thụt tháo làm sạch.

2. CÁC BIỂU HIỆN RỐI LOẠN TIÊU HOÁ HAY GẶP

2.1. Táo bón

Táo bón là một triệu chứng, không phải là một bệnh, là việc giảm số lần đi cầu, đi cầu lâu hay khó khăn do phân khô và cứng, bệnh nhân phải rặn trong quá trình đi cầu. Khi chuyển động của ruột giảm, khối lượng phân được giữ lại trong lòng ruột và hầu hết nước trong phân được hấp thu, chỉ một lượng nước nhỏ được giữ lại để làm mềm phân. Sự di chuyển của phân khô, cứng có thể gây đau trực tràng khi đi cầu.

Mỗi người có một kiểu đi cầu khác nhau mà điều dưỡng phải nhận định, đánh giá. Điều quan

trọng mà điều dưỡng phải nhớ là không phải mọi người lớn đều đi cầu hằng ngày. Việc đi cầu chỉ diễn ra sau 4 ngày được xem là bất bình thường. Ở những người lớn tuổi, sau 2 đến 3 ngày không đi cầu và không gặp khó khăn, đau hay chảy máu nào được xem là bình thường.

Táo bón là một trở ngại đáng kể đối với sức khỏe. Việc rặn nhiều trong quá trình đi cầu tạo nên khó khăn đối với các bệnh nhân mới phẫu thuật ở trực tràng và ở sinh dục. Thêm vào đó, những bệnh có tăng áp lực nhãn cầu và tăng áp lực nội sọ nên tránh táo bón. Những người lớn tuổi có thể bị táo bón do một số thuốc mà họ uống vào như: aspirin, kháng histamin, lợi tiểu và những thuốc kiểm soát bệnh đái tháo đường. Một số trường hợp táo bón làm cho phân đóng rất chặt, do táo bón lâu ngày không được điều trị, do sự tập trung phân cứng làm niêm kín trong đại tràng mà không tống ra được. Trong trường hợp nặng, khối này có thể lan lên đến đại tràng sichma. Những bệnh nhân yếu sức, mất ý thức hầu hết có nguy cơ gặp phải tình trạng này. Triệu chứng chính là không thể đi cầu mặc dù nhiều lần buồn cầu. Mất cảm giác ngon miệng, chướng bụng và đau trực tràng là những triệu chứng đi kèm.

2.2.    Ỉa chảy

Ỉa chảy là sự gia tăng khối lượng phân, phân nhiều nước và không thành khuôn. Nó là triệu chứng của các rối loạn có ảnh hưởng đến tiêu hoá, hấp thu bài tiết của dạ dày, ruột. Các chất trong lòng ruột đi qua ruột non và đại tràng nhanh hơn nhiều so với việc hấp thu bình thuờng của ruột.

Sự kích thích trong đại tràng làm tăng tiết dịch nhày, hậu quả là phân trở nên đầy nước và vì vậy không thể kiểm soát được việc đi cầu bình thường.

Rất khó đánh giá phân ở trẻ em. Một trẻ bú sữa bình có thể có phân cứng 2 lần mỗi ngày, còn những trẻ bú sữa mẹ có thể đi cầu 5 - 8 lần mỗi ngày với phân mềm, nhỏ. Người mẹ hay điều dưỡng phải ghi nhận bất cứ sự tăng đột ngột nào về số lượng phân, phân giảm đóng khuôn, tính chất của phân,...

2.3.    Đại tiện không tự chủ

Đại tiện không tự chủ là sự mất khả năng điều khiển phân ở hậu môn. Các tình trạng thực thể làm suy yếu chức năng cơ thắt hậu môn hay mất sự kiểm soát có thể gây đại tiện không tự chủ. Những tình trạng tạo ra phân nước, số lượng lớn thường xuyên cũng có thể gây đại tiện không tự chủ.

2.4.    Chứng đầy hơi

Khi hơi di chuyển trong lòng ruột, thành ruột căng và phồng lên. Đây là nguyên nhân hay gặp nhất của đầy hơi, đau. Thường thì hơi trong ruột thoát ra qua miệng (ợ) hay qua hậu môn (trung tiện). Tuy nhiên nếu có sự giảm chuyển động của ruột do những thuốc tê thông thường, phẫu thuật bụng hay sự bất động, tình trạng đầy hơi trở nên nghiêm trọng đủ để làm căng bụng và gây đau.

2.5.    Trĩ

Trĩ là tình trạng các tĩnh mạch bên trong trực tràng bị giãn và ứ máu, hoặc là trĩ nội hoặc là trĩ ngoại. Trĩ ngoại có thể nhìn thấy được dễ dàng bằng mắt, như là một phần nhô ra của da. Nếu tĩnh mạch lót bên dưới trở nên cứng thì nó đổi màu thành đỏ thẫm. Trĩ nội có một màng nhày bên ngoài. Ap lực tĩnh mạch tăng do rặn mạnh lúc đi cầu, mang thai và bệnh gan mạn tính có thể gây nên trĩ.

3. QUY TRÌNH CHĂM SÓC ĐỐI VỚI CÁC RỐI LOẠN Ở HỆ TIÊU HOÁ

3.1. Nhận định

Để đánh giá mô hình bài tiết tiêu hoá và các vấn đề bất thường, điều dưỡng phải lấy bệnh sử, đánh giá thực thể vùng bụng, xem các kết quả xét nghiệm cần thiết.

3.1.1.    Quá trình bệnh sử

Bệnh sử cung cấp một tóm tắt về thói quen và kiểu bài tiết bình thường của bệnh nhân. Bệnh nhân sẽ mô tả những triệu chứng bình thường và không bình thường của mình. Đánh giá thói quen và nhận thức của bệnh nhân về bình thường và không bình thường, điều dưỡng có thể xác định các vấn đề của bệnh nhân. Bệnh sử xoay quanh các yếu tố làm ảnh hưởng đến quá trình bài tiết.

-    Xác định kiểu bài tiết thường ngày của bệnh nhân, bao gồm số lần và thời điểm đi cầu trong ngày. Bệnh nhân hay người nhà nên ghi chép lại kiểu bài tiết tiêu hoá hiện tại của bệnh nhân.

-    Hỏi những phương pháp bệnh nhân đã sử dụng như uống nước nóng, thuốc nhuận trường, ăn thức ăn đặc biệt hoặc đi cầu trong một khoảng thời gian nhất định của ngày.

-    Mô tả bất kỳ sự thay đổi nào gần đây về kiểu bài tiết. Thông tin này có ý nghĩa nhất vì kiểu bài tiết của mỗi người là khác nhau và chính bệnh nhân là người có thể phát hiện các thay đổi dễ dàng nhất.

-    Mô tả của bệnh nhân về đặc điểm của phân hằng ngày. Hỏi xem phân là nước hay đóng khuôn, mềm hay cứng cũng như có các màu sắc đặc trưng hay không.

-    Bệnh sử về chế độ ăn: Xác định xem bệnh nhân thường thích ăn gì nhất trong ngày. Điều dưỡng tính toán lượng thức ăn như trái cây, rau, ngũ cốc, bánh mỳ.

-    Lượng dịch đưa vào hằng ngày, bao gồm loại và số lượng dịch. Bệnh nhân cũng có thể ước lượng số lượng dịch đã dùng bằng cách dùng các dụng cụ đo lường ở hộ gia đình thường dùng.

-    Tập thể dục: Điều dưỡng yêu cầu bệnh nhân mô tả về các loại bài tập thể dục, thời gian tập thể dục hằng ngày.

-    Hỏi về các phương pháp trợ giúp ở nhà. Đánh giá xem bệnh nhân có sử dụng thụt rửa, thuốc nhuận trường hay thức ăn đặc biệt nào không trước lúc đại tiện.

-    Tiền sử về ốm đau có ảnh hưởng đến dạ dày - ruột. Những thông tin này có thể giúp giải thích các triệu chứng.

-    Nếu có hậu môn nhân tạo thì phải đánh giá số lượng bao đựng phân, đặc điểm, tình trạng của miệng nối (màu sắc, sự sưng nề và ngứa), các phương pháp được sử dụng để duy trì chức năng của hậu môn nhân tạo.

-    Tiền sử về dùng thuốc: Điều dưỡng hỏi xem bệnh nhân có dùng thuốc hay không (ví dụ như thuốc nhuận trường, thuốc kháng acid, các thuốc cung cấp các ion, thuốc giảm đau) mà có thể làm thay đổi sự bài tiết và đặc điểm của phân.

-    Cảm xúc của bệnh nhân có thể làm thay đổi có ý nghĩa số lần đi cầu. Trong suốt quá trình đánh giá, quan sát cảm xúc của bệnh nhân, âm điệu của giọng nói vì nó có thể biểu lộ có ý nghĩa đối với cảm xúc.

-    Tiền sử về xã hội: Nhiều bệnh nhân có sự sắp xếp cuộc sống khác nhau, nơi bệnh nhân sống có thể ảnh hưởng đến thói quen đại tiện của họ. Nếu bệnh nhân sống chung thì phải hỏi xem trong nhà có bao nhiêu phòng vệ sinh, họ có phải dùng chung nhà vệ sinh với những người khác hay không? Nếu bệnh nhân không thể tự đi cầu độc lập được thì điều dưỡng phải đánh giá xem ai giúp đỡ họ và giúp đỡ như thế nào.

-    Khả năng di chuyển của bệnh nhân cần phải được đánh giá để quyết định xem bệnh nhân có cần các dụng cụ hay người giúp đỡ hay không.

3.1.2.    Thăm khám thực thể

Điều dưỡng đánh giá thực thể về các hệ thống của cơ thể và các chức năng có thể bị ảnh hưởng do sự hiện diện của các vấn đề về bài tiết tiêu hoá.

-    Miệng: Kiểm tra răng, miệng, lưỡi và nướu. Những răng không tốt thường ảnh hưởng đến khả năng nhai.

-    Bụng: Chu vi, hình dạng, tính cân đối và màu sắc của da bụng. Ngoài ra còn ghi chú các khối, sóng nhu động, sẹo, miệng nối và tổn thương. Bình thường nhu động ruột không nhìn thấy được, nếu thấy có nhu động thì có thể là một dấu hiệu của tắc ruột. Có thể có bụng chướng là do hơi trong ruột, khối u lớn hay dịch trong khoang phúc mạc.

Điều dưỡng dùng ống nghe để đánh giá âm ruột. Bình thường các âm xuất hiện cứ mỗi 5 đến 15 giây và kéo dài từ nửa giây cho đến vài giây. Trong khi nghe, phải chú ý các đặc điểm và tần suất của âm ruột. Âm ruột vang có thể nghe được trong trường hợp bụng chướng. Sự mất hay giảm hoạt động của âm ruột (ít hơn 5 âm trong một phút) có thể do liệt ruột, ví dụ như liệt ruột sau mổ. Cường độ âm tăng và tăng tần số (trên 35 âm trong một phút) thường gặp trong tắc ruột, hoặc trong các rối loạn nhiễm trùng.

Điều dưỡng sờ bụng bệnh nhân để đánh giá các khối u bên trong ổ bụng hay những u ở vùng da bụng. Bệnh nhân phải thư giãn các cơ ở bụng trong lúc khám, nếu không thì khó có thể sờ được các cơ quan hay các khối u trong bụng.

Gõ để phát hiện các tổn thương, dịch và khí trong bụng. Hơi hay khí thì tạo ra âm trong, còn các khối u và dịch thì tạo ra âm đục.

-    Trực tràng: Điều dưỡng khám xung quanh hậu môn về các tổn thương, mất màu sắc, viêm và trĩ. Các bất thường nào cũng nên được đánh giá một cách kỹ càng. Để đánh giá trực tràng, điều dưỡng cần đánh giá bằng cách sờ nhẹ nhàng. Sau khi đeo găng sạch, điều dưỡng bôi trơn ngón tay trỏ, yêu cầu bệnh nhân rặn và cùng lúc đó, điều dưỡng đưa ngón tay trỏ qua cơ thắt vòng hậu môn về phía rốn bệnh nhân. Điều dưỡng sờ tất cả các thành của trực tràng để khám các khối hay các bất thường ở bên trong. Niêm mạc thành trực tràng thường mịn và mềm mại. Việc đẩy ngón tay quá mạnh vào thành trực tràng hay đưa ngón tay vào quá sâu có thể gây khó chịu cho bệnh nhân.

3.1.3.    Các đặc điểm của phân

Việc kiểm tra các đặc điểm của phân có thể thấy được các thông tin về thay đổi bài tiết. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến một đặc điểm. Chìa khoá cho việc đánh giá là xem bệnh nhân có sự thay đổi nào gần đây hay không. Bệnh nhân là người cung cấp thông tin tốt nhất.

3.1.4.    Xét nghiệm phân

Các xét nghiệm này cho các thông tin có ích liên quan đến các vấn đề bài tiết. Các xét nghiệm phân tích phân có thể phát hiện các tình trạng bệnh lý như khối u, chảy máu và nhiễm trùng.

Điều dưỡng chịu trách nhiệm lấy mẫu phân chính xác, dán nhãn thích hợp, đựng trong chai hợp lý và được chuyển đến phòng thí nghiệm đúng giờ. Một số xét nghiệm cần mẫu phân phải được bảo quản tốt.

Bệnh nhân thường có thể tự lấy mẫu phân nếu được hướng dẫn đúng. Phải giải thích rằng phân không thể để trộn lẫn với nước tiểu nên bệnh nhân phải đi cầu vào bô sạch và khô hay một chai đặc biệt.

Các xét nghiệm quan sát vi thể tìm máu trong phân và nuôi cấy phân chỉ cần một lượng phân nhỏ. Điều dưỡng lấy một miếng phân khuôn nhỏ, hoặc từ 15 đến 30 gam.

Các xét nghiệm đo lượng mỡ trong phân cần từ 3 đến 5 ngày lấy mẫu phân. Tất cả các lượng phân được thu thập trong khoảng thời gian này cần được bảo quản tốt.

Sau khi thu thập phân, điều dưỡng dán nhãn và hoàn thành mẫu yêu cầu của phòng xét nghiệm. Không được chậm trễ trong việc đưa mẫu phân đến phòng xét nghiệm. Một số xét nghiệm như tìm ký sinh trùng và trứng giun cần phải làm ấm phân.

3.1.5.    Các xét nghiệm thăm dò

3.1.5.1. Quan sát trực tiếp

Các dụng cụ được đưa qua miệng (quan sát đường tiêu hoá trên) hoặc qua trực tràng (quan sát đường tiêu hoá dưới) cho phép bác sĩ có thể kiểm tra sự toàn vẹn của niêm mạc, của mạch máu và các phần của cơ quan.

-    Nội soi dạ dày và đường tiêu hoá trên có thể thấy được thực quản, dạ dày và tá tràng để tìm các khối u, thay đổi mạch máu, viêm, loét hay tắc nghẽn. Nội soi dạ dày có thể giúp bác sĩ lấy một mẫu mô (sinh thiết) và cầm máu.

Thực hiện điều dưỡng trước khi làm xét nghiệm này là:

+ Cho bệnh nhân ký bảng cam kết.

+ Yêu cầu bệnh nhân không được ăn thứ gì đêm hôm trước.

+ Yêu cầu bệnh nhân lấy răng giả ra.

+ Báo trước với bệnh nhân là họ sẽ có cảm giác khó chịu và tắc nghẽn trong họng trong quá trình làm thủ thuật.

+ Họ sẽ không thể nói được khi ống nội soi được đưa vào trong thực quản.

+ Điều dưỡng đưa thuốc giảm đau và kháng cholinergic như đã kê đơn.

Trong suốt quá trình làm xét nghiệm, điều dưỡng phải làm:

+ Mô tả các bước của xét nghiệm cho bệnh nhân.

+ Đặt mẫu mô vào trong chai đã được dán nhãn đúng và được đóng chặt.

+ Phải có các dụng cụ cấp cứu phòng khi bệnh nhân có các biến chứng về hô hấp.

Những vấn đề điều dưỡng phải thực hiện sau khi thực hiện xong xét nghiệm:

+ Vì họng bệnh nhân bị gây tê nên khuyên bệnh nhân tránh ăn uống (thường khoảng sau 2 đến 4 giờ).

+ Giải thích cho bệnh nhân rằng cảm giác đau họng có thể kéo dài vài ngày và súc miệng bằng nước muối có thể giảm đau.

+ Quan sát tình trạng chảy máu, đau, sốt, khó nuốt và khó thở.

-    Nội soi đại tràng cho phép nhìn thấy hậu môn, trực tràng, đại tràng sichma. Bác sĩ có thể sinh thiết và cầm máu.

Điều dưỡng thực hiện trước khi làm xét nghiệm:

+ Bệnh nhân ký giấy cam kết.

+ Thụt tháo vào đêm trước, cho thuốc nhuận truờng vào buổi sáng làm xét nghiệm.

+ Bệnh nhân có thể ăn sáng nhẹ.

+ Giải thích rằng bệnh nhân sẽ có cảm giác khó chịu và buồn đi cầu khi ống nội soi được đưa vào.

+ Trong quá trình làm xét nghiệm, bác sĩ dùng hơi để làm căng ruột để có thể nhìn thấy dễ hơn, vì vậy bệnh nhân sẽ đau.

+ Đặt bệnh nhân ở tư thế gối ngực và mặt úp xuống.

+ Đắp chăn cho bệnh nhân để họ đỡ lúng túng.

Thực hiện điều dưỡng trong khi làm thủ thuật:

+ Quan sát nhịp thở của bệnh nhân (đặc biệt là những bệnh nhân có bệnh ở phổi mà không thể chịu đựng được tư thế nằm úp mặt).

+ Đặt mẫu mô vào trong chai đã được dán nhãn đúng và được đóng chặt.

Thực hiện điều dưỡng sau khi làm xét nghiệm:

+ Quan sát chảy máu, đau ở trực tràng, đau bụng và sốt.

+ Yêu cầu bệnh nhân quan sát máu trong phân và báo lại nếu có chảy máu.

3.1.5.2. Quan sát gián tiếp

Khi các phương pháp quan sát trực tiếp không thể thấy được, như các xét nghiệm X-quang gián tiếp. Với các xét nghiệm này, bệnh nhân được cho uống các thuốc cản quang, có thể quan sát thực quản đoạn dưới, dạ dày và tá tràng. Bác sĩ ghi chú các chỗ loét, viêm, khối u, sai vị trí các cơ quan.

-    Thực hiện điều dưỡng trước khi làm xét nghiệm:

+ Bệnh nhân ký giấy cam đoan.

+ Không được ăn uống gì vào đêm trước khi làm xét nghiệm.

+ Giải thích rằng mùi của thuốc cản quang hơi khó chịu.

-    Thực hiện điều dưỡng trong suốt quá trình làm xét nghiệm:

+ Xét nghiệm được thực hiện ở phòng X-quang, các kỹ thuật viên giải thích các bước cho bệnh nhân.

-    Thực hiện điều dưỡng sau khi làm xét nghiệm:

+ Bệnh nhân có thể ăn lại ngay sau khi làm xét nghiệm.

+ Bệnh nhân phải tống thuốc cản quang ra khỏi ruột để tránh sự đóng chặt, điều dưỡng hướng dẫn bệnh nhân uống nước nhiều, tối thiểu là 2 lít sau khi làm xét nghiệm. Bác sĩ có thể ra y lệnh thuốc nhuận trường hay thuốc tẩy nhẹ.

3.2. Chẩn đoán điều dưỡng

Để có được một chẩn đoán chính xác không chỉ phụ thuộc vào sự đánh giá toàn diện mà còn phải biết các đặc điểm hay các yếu tố có thể làm ảnh hưởng đến quá trình bài tiết. Điều dưỡng phải xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân và lập kế hoạch các phương pháp chăm sóc để bảo đảm duy trì chức năng tiêu hoá bình thường.

Những ví dụ chẩn đoán theo Hội Chẩn đoán Điều dưỡng Mỹ:

-    Táo bón do:

+ Mất vận động.

+ Không đúng thói quen (thiếu tính riêng tư).

+ Lượng dịch đưa vào bị thiếu.

+ Chế độ ăn thiếu chất xơ.

+ Chế độ ăn thiếu nước.

+ Sử dụng các thuốc nhuận trường thường xuyên lâu dài.

-    Táo bón nguyên nhân về mặt nhận thức do:

+ Niềm tin sức khoẻ, tôn giáo.

+ Quá trình suy nghĩ bị suy yếu.

-    Ỉa chảy do:

+ Căng thẳng hay lo lắng.

+ Chế độ ăn.

-    Đại tiện không tự chủ do:

+ Thần kinh cơ.

+ Trầm cảm hay lo lắng quá mức.

-    Đau do trĩ.

-    Nguy cơ tổn thương da do:

+ Có các miệng nối tiêu hoá.

+ Đại tiện không tự chủ.

3.3.    Lập kế hoạch

Kế hoạch nên thiết lập mục tiêu và kết quả mong muốn bằng cách kết hợp với các thói quen của bệnh nhân càng nhiều càng tốt. Nếu các thói quen gây nên các vấn đề về bài tiết, điều dưỡng giúp bệnh nhân học các thói quen khác. Do đó điều dưỡng và bệnh nhân cần cùng làm việc thân mật để lập ra một kế hoạch can thiệp có hiệu quả.

Khi bệnh nhân bị mất khả năng hay bị yếu đi do bệnh tật, cần có sự tham gia của gia đình trong kế hoạch chăm sóc. Thường các thành viên trong gia đình có các thói quen không tốt như bệnh nhân, vì vậy việc giáo dục cả gia đình và bệnh nhân là một phần quan trọng của kế hoạch chăm sóc. Mục tiêu của việc chăm sóc sức khoẻ cho các bệnh nhân có các vấn đề về bài tiết tiêu hoá như sau:

-    Có được sự hiểu biết về quá trình bài tiết bình thường.

-    Có được thói quen đi cầu điều độ.

-    Hiểu và duy trì được lượng dịch và thức ăn đưa vào thích hợp.

-    Có được một chương trình tập thể dục điều độ.

-    Có được sự thoải mái.

-    Duy trì sự toàn vẹn của da.

3.4.    Thực hiện

Thành công của điều dưỡng được đánh giá qua sự cải thiện hiểu biết về quá trình bài tiết tiêu hoá của bệnh nhân và các thành viên trong gia đình.

Điều dưỡng nên hướng dẫn bệnh nhân và các thành viên trong gia đình về chế độ ăn, lượng dịch đưa vào thích hợp và các yếu tố gây kích thích, hay làm chậm nhu động ruột. Điều này được thực hiện tốt nhất trong bữa ăn của bệnh nhân.

3.4.1.    Tăng cường các thói quen cần thiết

Một trong những thói quen quan trọng nhất mà điều dưỡng phải giáo dục cho bệnh nhân là dành thời gian cho việc đi cầu.

Khuyên bệnh nhân bắt đầu thành lập thói quen trong khoảng thời gian mà việc đi cầu dường như dễ xảy ra nhất, thường khoảng 1 giờ sau bữa ăn. Nếu bệnh nhân bị hạn chế hoạt động phải nằm trên giường hay cần sự giúp đỡ thì điều dưỡng có thể đưa bô đến giường hay dìu họ đến nhà vệ sinh đúng giờ.

Ở các bệnh viện phải đảm bảo rằng việc điều trị hằng ngày không làm ảnh hưởng đến thói quen của bệnh nhân. Cũng rất quan trọng trong việc tạo ra sự riêng tư cho từng bệnh nhân. Khi bệnh nhân bị buộc phải dùng bô trong phòng ở chung thì điều dưỡng phải kéo màn để bệnh nhân có thể thoải mái.

3.4.2.    Các phương pháp can thiệp

Để giúp bệnh nhân bài tiết các chất trong lòng ruột một cách bình thường và thoải mái, có thể sử dụng một số các can thiệp sau:

-    Tư thế ngồi xổm: Điều dưỡng phải giúp những bệnh nhân gặp khó khăn trong việc ngồi xổm do

yếu cơ hay do các vấn đề liên quan đến vận động. Các nhà vệ sinh bình thường là quá thấp đối với những bệnh nhân có các bệnh về cơ và khớp. ơ nhà, khuyên bệnh nhân sử dụng các toilet có thể nâng cao chỗ ngồi. Với những chỗ ngồi như vậy bệnh nhân không phải cố gắng để ngồi xuống và đứng dậy.

- Đặt vị trí của bô: Khi đặt bệnh nhân lên bô, điều quan trọng là tránh sự căng cơ và không thoải mái. Không bao giờ được đặt bệnh nhân lên bô và sau đó bỏ đi và để giường phẳng. Sau khi bệnh nhân đã được đặt lên bô có thể nâng đầu giường lên khoảng 30o. Việc đặt bệnh nhân ở tư thế ngồi buộc họ phải ngồi thẳng dậy, sử dụng sức mạnh của cánh tay để chống khi điều dưỡng đặt bô vào. Hầu hết các bệnh nhân quá yếu nên không thể làm được điều này.

Điều dưỡng cũng phải duy trì sự riêng tư của bệnh nhân sử dụng bô. Đèn báo và giấy vệ sinh nên được đặt ở trong tầm với của bệnh nhân.

Để lấy bô ra, điều dưỡng yêu cầu bệnh nhân xoay người qua một bên và nhấc mông lên, cầm bô thật chặt để tránh đổ. Tránh kéo bô ở ngay bên dưới mông bệnh nhân vì có thể gây tổn thương da hay tổn thương mô như loét ép. Sau khi lấy bô ra, trong lúc còn mang găng, điều dưỡng lau hậu môn và tầng sinh môn cho bệnh nhân. Sau khi đánh giá phân xong, đổ phân và thu dọn dụng cụ.

-    Thuốc tẩy nhẹ và thuốc nhuận trường: Thuốc tẩy nhẹ và thuốc nhuận trường có thể được sử dụng trong trường hợp bệnh nhân không thể đi cầu bình thường do đau, táo bón hay do phân đóng chặt, ngoài ra còn để bài tiết thuốc sau xét nghiệm ở dạ dày ruột. Mặc dù các thuật ngữ thuốc nhuận trường hay thuốc tẩy nhẹ thường được dùng thay thế nhau nhưng thuốc tẩy nhẹ có tác dụng mạnh hơn lên ruột.

-    Các chất chống tiêu chảy: Các chất chống tiêu chảy làm giảm trương lực cơ ở ruột, qua đó làm chậm sự di chuyển của phân. Các thuốc chống tiêu chảy hầu hết có thành phần thuốc phiện (opiate). Chúng ức chế các nhu động ruột, mặt khác nó cũng làm co đại tràng. Kết quả là nhiều nước được hấp thu hơn.

-    Thụt rửa: Thụt rửa là việc bơm một lượng dịch vào trực tràng và đại tràng sichma. Thể tích dịch đưa vào làm vỡ các khối phân, làm căng thành trực tràng và khởi động phản xạ đi cầu. Thụt rửa còn dùng để đưa thuốc vào, tạo ra tác dụng tại chỗ lên niêm mạc trực tràng. Tác dụng hay gặp nhất của thụt rửa là làm giảm tạm thời tình trạng táo bón. Các chỉ định khác: làm sạch ruột trước khi làm các xét nghiệm nội soi, phẫu thuật.

-    Di chuyển khối phân bằng ngón tay: Đối với trường hợp phân đóng chặt, khối phân quá lớn, nếu thụt rửa thất bại, điều dưỡng phải di chuyển khối phân bằng ngón tay và di chuyển từng phần.

Thủ thuật có thể gây kích thích niêm mạc trực tràng, chảy máu và kích thích dây thần kinh phế vị dẫn đến làm chậm nhịp tim nên chỉ thực hiện thủ thuật khi có y lệnh. Điều dưỡng thực hiện theo các bước sau:

+ Giải thích cho bệnh nhân về thủ thuật. Lấy các dấu hiệu sống trước khi làm thủ thuật. Giúp bệnh nhân nằm với gối gấp và lưng hướng về phía điều dưỡng.

+ Đặt miếng đệm không thấm nước dưới mông bệnh nhân. Để bô cạnh bệnh nhân.

+ Đeo găng và bôi dầu nhờn vào ngón tay trỏ của tay thuận.

+ Đưa nhẹ nhàng ngón trỏ của tay đeo găng vào trực tràng và đưa ngón tay đi lên từ từ dọc theo thành trực tràng hướng lên phía rốn.

+ Nới lỏng nhẹ nhàng phân bằng cách massage xung quanh nó.

+ Di chuyển cục phân đi xuống hướng về đầu dưới trực tràng. Lấy những cục phân nhỏ ra và bỏ vào bô.

+ Đánh giá lại nhịp tim của bệnh nhân và kiểm tra các dấu hiệu toàn thân. Ngưng thủ thuật ngay nếu nhịp tim giảm xuống nhiều hoặc có rối loạn nhịp.

+ Tiếp tục lấy sạch phân.

+ Khi thực hiện xong, cho bệnh nhân mặc quần áo sạch, lau sạch và khô mông, tầng sinh môn.

+ Cất bô và cởi găng ra bằng cách lộn găng ra phía ngoài.

+ Giúp đỡ bệnh nhân ở tư thế thoải mái. Rửa tay.

+ Ghi lại kết quả phân bằng cách mô tả đặc điểm của phân.

+ Sau thủ thuật này có thể là dùng phương pháp thụt rửa hay các thuốc tẩy rửa.

+ Đánh giá lại các dấu hiệu sống của bệnh nhân.

-    Tập luyện: Chương trình tập luyện cho hệ tiêu hoá giúp một số bệnh nhân đi cầu bình thường, đặc biệt là những người vẫn còn sự kiểm soát thần kinh cơ.

Chương trình tập luyện bao gồm việc lập ra thói quen hằng ngày. Bằng cách cố gắng đi cầu trong cùng một thời gian trong ngày và sử dụng các phương pháp để can thiệp việc đi cầu, bệnh nhân sẽ thu được sự kiểm soát bài tiết tiêu hoá. Chương trình cần thời gian, sự kiên nhẫn và tính liên tục. Chương trình thành công bao gồm:

+ Đánh giá mô hình bài tiết tiêu hoá bình thường của bệnh nhân và ghi lại những thời điểm bệnh nhân đại tiện không tự chủ.

+ Chọn một thời điểm trong mô hình bài tiết của bệnh nhân để bắt đầu việc kiểm soát sự bài tiết.

+ Đưa các chất làm mềm phân qua đường miệng hằng ngày, hoặc các thuốc đạn có tính tẩy nhẹ vào hậu môn tối thiểu là nửa giờ trước thời gian đi cầu được chọn (đại tràng đoạn dưới phải sạch phân để cho thuốc đạn có thể tiếp xúc với niêm mạc ruột).

+ Đưa thức uống nóng (trà nóng), nước trái cây hay bất cứ các loại dịch nào kích thích nhu động ruột trước thời gian đi cầu.

+ Đánh giá việc đi cầu của bệnh nhân ở thời gian đã thiết kế.

+ Tạo ra sự riêng tư và một giới hạn thời gian cho một lần đi cầu (15 - 20 phút).

+ Hướng dẫn bệnh nhân đưa người ra phía trước, dùng áp lực hai bàn tay đè lên bụng, không được rặn.

+ Không được phê bình hay làm thất vọng nếu bệnh nhân không đi cầu được.

+ Cho bệnh nhân ăn các bữa ăn bình thường với đầy đủ lượng dịch và chất xơ.

+ Tập thể dục thường xuyên trong khả năng thể chất của bệnh nhân.

3.4.3. Chăm sóc các mở thông đường tiêu hoá

Bệnh nhân học cách tự chăm sóc miệng nối, tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ về chế độ ăn và tập thể dục để duy trì kiểu bài tiết bình thường. Họ cần sự giáo dục của điều dưỡng.

-    Đưa các miệng nối vào túi:

Một miệng nối cần có một hệ thống túi để thu thập phân. Hệ thống túi hữu hiệu có thể bảo vệ da, chứa phân, không để bốc mùi, bệnh nhân cảm thấy thoải mái và không gây sự chú ý. Bệnh nhân phải cảm thấy an toàn khi tham gia vào các hoạt động xã hội.

Để túi vừa khít và theo yêu cầu bệnh nhân, điều dưỡng phải xem xét các miệng nối, loại, kích thước và số lượng của hệ thống dẫn lưu; kích thước và chu vi của bụng, tình trạng da xung quanh miệng nối; các hoạt động thể chất và sở thích, tuổi bệnh nhân; giá của thiết bị.

Hệ thống túi có tác dụng hạn chế kích thích do sự di chuyển của túi và bệnh nhân thoải mái khi mang nó.

-    Rửa hậu môn nhân tạo:

Hậu môn nhân tạo ở đại tràng xuống và đại tràng sichma phải được rửa thường xuyên. Súc rửa còn làm sạch hơi và mùi trong đại tràng. Rửa nhẹ nhàng, đúng dụng cụ làm giảm nguy cơ thủng ruột.

Bác sĩ sẽ khuyên khi nào thì bắt đầu sự súc rửa và mức độ thường xuyên. Qua đó bệnh nhân tạo ra lịch riêng của mình.

Thủ thuật thường tốn khoảng 60 phút có thể làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của bệnh nhân. Có thể thay đổi phương pháp này bằng cách kiểm soát chế độ ăn hoặc dùng thuốc nhuận trường.

3.4.4.    Duy trì lượng dịch và thức ăn thích hợp

Điều dưỡng nên xem xét tần suất đi cầu, đặc điểm phân và các loại thức ăn để có thể chọn một chế độ ăn thích hợp. Bệnh nhân táo bón hay phân đóng chặt cần ăn thức ăn giàu chất xơ và nhiều dịch. Tuy nhiên bệnh nhân phải biết rằng, phương pháp thay đổi chế độ ăn cần một thời gian dài mới có thể làm giảm được các vấn đề liên quan đến bài tiết tiêu hoá. Đối với các trường hợp ỉa chảy, khuyên bệnh nhân ăn thức ăn có hàm lượng chất xơ thấp.

Các thức ăn ít chất xơ như là: mỳ, bún, gạo, phomát, trứng không chiên, nước trái cây ép, thịt nạc, cá, thịt gia cầm.

Bệnh nhân có hậu môn nhân tạo nên uống nhiều nước mỗi ngày để tránh tắc nghẽn, tránh các loại thức ăn gây hơi và mùi như: đậu rang, cải bắp, hoa lơ...

3.4.5.    Duy trì một chế độ tập thể dục đều đặn

Chương trình tập thể dục hằng ngày giúp ngăn cản các vấn đề về bài tiết. Đi bộ, đi xe đạp đứng, hay bơi lội kích thích đường ruột.

Đối với những bệnh nhân bị bất động tạm thời thì cần đi lại càng sớm càng tốt.

Một số bệnh nhân gặp khó khăn trong đại tiện bởi vì các cơ ở nền chậu và cơ bụng yếu cũng cần các bài tập thể dục giúp làm mạnh cơ.

3.4.6.    Tạo ra sự thoải mái khi bài tiết

Mục tiêu của bệnh nhân trĩ là đi cầu phân cục, mềm, không đau. Chế độ ăn, lượng dịch thích hợp, tập thể dục điều độ làm cải thiện phân. Nếu bệnh nhân táo bón, sự di chuyển của phân có thể gây chảy máu và kích thích. Làm nóng tại chỗ có thể làm giảm sưng trĩ tạm thời bằng cách dùng một chậu tắm ngồi với nước ấm.

Để làm giảm khó chịu do chướng hơi, điều dưỡng sử dụng các phương pháp làm giảm hơi trong dạ dày hay các phương pháp giúp tống hơi ra ngoài. Nuốt không khí làm tăng hơi dạ dày. Bệnh nhân có thể giảm số lượng khí nuốt vào bằng cách không uống các loại nước có cacbon, không nhai kẹo cao su hay kẹo cứng. Khi chướng hơi nghiêm trọng do nhu động ruột giảm thì cần đặt sonde mũi -dạ dày. Đi bộ giúp kích thích nhu động ruột và giảm hơi. Khi các phương pháp trên thất bại thì có thể dùng ống thông đưa vào trực tràng, không nên đặt một lúc quá 30 phút vì có thể làm kích thích và trầy xước da ở hậu môn và trực tràng.

3.4.7.    Duy trì sự lành lặn của da

Những bệnh nhân bị tiêu chảy hay đại tiện không tự chủ, những bệnh nhân có hậu môn nhân tạo thường có nguy cơ bị tổn thương da do phân đọng lại trên da, do phân nước thường có tính acid và chứa các men tiêu hoá.

Đối với những bệnh nhân không có khả năng yêu cầu sự giúp đỡ, điều dưỡng phải kiểm tra sự đi cầu thường xuyên. Vùng hậu môn có thể được bảo vệ kem vazơlin hay các chất dầu khác để giữ ẩm da, ngăn ngừa sự khô và nứt da. Nhiễm nấm da có thể phát triển dễ dàng nên phải sử dụng chất chống nấm.

3.4.8.    Sự nhận thức về bản thân

- Khi một bệnh nhân có các vấn đề về sự bài tiết tiêu hoá, một nỗi lo sợ về bản thân có thể xảy

ra:

+ Việc đại tiện không tự chủ.

+ Phân có mùi hôi thối.

+ Hậu môn nhân tạo có thể gây cho bệnh nhân một cảm nhận thay đổi trong cơ thể.

+ Bệnh nhân ngại giao tiếp.

-    Điều dưỡng là người có thể giúp bệnh nhân giữ lại được sự tự tin về bản thân thông qua các can thiệp sau:

+ Cho bệnh nhân cơ hội để thảo luận các vấn đề mà họ quan tâm hay nỗi lo sợ về các vấn đề rối loạn bài tiết.

+ Cho bệnh nhân và gia đình các thông tin để hiểu các vấn đề về bài tiết.

+ Giúp đỡ bệnh nhân quản lý các tình trạng thay đổi bài tiết.

+ Tạo ra sự riêng tư trong quá trình chăm sóc.

+ Biểu lộ sự thông cảm và sự hiểu biết. Nên nhớ rằng bệnh nhân sẽ quan sát các biểu hiện ở nét mặt hay các biểu hiện không bằng lời của điều dưỡng trong suốt quá trình chăm sóc hậu môn nhân tạo và việc thay các túi đựng phân.

Thường thì một bệnh nhân có các vấn đề về bài tiết tiêu hoá, họ cảm thấy có sự đau khổ hết sức, sự giúp đỡ của điều dưỡng là cần thiết để bệnh nhân có thể quay trở lại lối sống bình thường.

3.5. Đánh giá quá trình chăm sóc

Hiệu quả của việc chăm sóc tuỳ thuộc vào sự thành công của việc đạt được mục tiêu và các kết quả mong muốn.

-    Bệnh nhân đi cầu với phân thành khuôn, mềm không đau.

-    Bệnh nhân cũng thu được những thông tin cần thiết để có thể thiết lập một mô hình bài tiết tiêu hoá bình thường.

-    Bệnh nhân có khả năng thực hiện sự đi cầu bình thường bằng cách tự thực hiện các phương pháp hằng ngày như chế độ ăn, lượng dịch vào, tập thể dục,...

-    Bệnh nhân chỉ cần sự trợ giúp nhỏ nhất vào các can thiệp giúp cho việc đi cầu như là sự thụt rửa hay là các thuốc nhuận trường.

EBOOK - SÁCH ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
NHU CẦU CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI
HỒ SƠ BỆNH NHÂN VÀ CÁCH GHI CHÉP
KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
VÔ KHUẨN - TIỆT KHUẨN
CHUẨN BỊ GIƯỜNG BỆNH
CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC
PHƯƠNG PHÁP VẬN CHUYỂN BỆNH NHÂN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN GIỚI TÍNH
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN Ở HỆ TIÊU HOÁ
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN KHI ĐAU
CHĂM SÓC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ
CÁC TƯ THẾ NGHỈ NGƠI TRỊ LIỆU
CHĂM SÓC CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ
ĐO DẤU HIỆU SỐNG
KỸ THUẬT TIÊM THUỐC
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
THÔNG TIỂU
THỤT THÁO
PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP, NGỪNG TUẦN HOÀN
RỬA TAY NGOẠI KHOA (SCRUBBING)
MẶC ÁO VÀ MANG GĂNG TAY VÔ TRÙNG (GOWNING AND CLOSED GLOVING)
KỸ THUẬT BĂNG BÓ
RỬA TAY THƯỜNG QUY
THAY BĂNG, RỬA VẾT THƯƠNG ỐNG DẪN LƯU
CÁCH LẤY MỘT SỐ BỆNH PHẨM ĐỂ LÀM XÉT NGHIỆM
ĐẶT XÔNG DẠ DÀY - RỬA DẠ DÀY
LIỆU PHÁP ÔXY
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC CHỌC DÒ TUỶ SỐNG, MÀNG BỤNG, MÀNG PHỔI VÀ MÀNG TIM
ĐO LƯỢNG DỊCH VÀO - RA
DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC LOÉT ÉP
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ ĐIỆN GIẬT
SƠ CỨU BỆNH NHÂN BỊ TAI NẠN DO NƯỚC
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ TAI NẠN DO NHIỆT
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC ĐẶT CATHETER VÀ ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN
SƠ CỨU GÃY XƯƠNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com