BỆNH THẦN KINH - HARRISON TIẾNG VIỆT

CÂU HỎI

XI-41

Bạn đang tiến hành một nghiên cứu cấu trúc tế bào ở bệnh nhược cơ. Bạn phải khảo sát khớp thần kinh cơ có chất dẫn truyền acetylcholine (Ach) và vi môi trường của nó. Trên những bệnh nhân bị nhược cơ không được điều trị điều nào dưới đây bạn mong muốn thấy được tại khớp thần kinh cơ sau khi acetylcholine được giải phóng ở phần trước synap.

A. Giảm lượng em zym Ach esterase

B. Giảm số lượng recetor Ach.

C. Giảm giải phóng Ach từ phần trước synap

D. Ty thể chiếm số lượng cao ở neuron trước synap.

XI-42

Bạn vừa mới cho nhập viện một bệnh nhân vì lý do co giật, bệnh nhân có tiền sử co giật trước đó. Theo lời miêu tả của gia đình bệnh nhân cho thấy đó là một cơn cục bộ đơn thuần ở tay trái sau đó lan ra toàn bộ cánh tay. Bệnh nhân không bị rối loạn ý thức và được đưa đi khám 2 giờ sau khi triệu chứng xuất hiện, hiện tại tỉnh táo tiếp xúc, định hướng tốt. Bệnh nhân không có cơn co giật nào thêm nhưng không thể cử động tay trái từ khi bị co giật. Công thức máu và điện giải bình thường, CT sọ não không cản quang không thấy kết quả gì đặc biệt. Thăm khám thấy, tay trái cảm giác bình thường nhưng cơ lực 0/5. Nên tiến hành làm gì tiếp theo ở bệnh nhân này?

A. Chụp mạch não.

B. Chọc dịch não tủy

C. Chụp cộng hưởng từ mạch máu

D. Lượng giá chức năng tâm thần

E. Đánh giá lại trong vài giờ sau.

XI-43.

Bệnh nhân nam 78 tuổi tiền sử tiểu đường bị sốt, đau đầu và rối loạn ý thứC. Khám thấy nhiệt độ 40.2°c, nhịp tim là 103 nhịp/phút, huyết áp 84/52 mmHg, cổ cứng và sợ ánh sáng. Dịch não tủy tế bào 2100 tế bào/microL, 100% nếu, glucose 10 mmg/dL, protein 78 mmg/dL, nhuộm soi âm tính. Theo kinh nghiệm thì loại thuốc nào sau đây nên được dùng?

A. Amphotericin

B. Dexamethason sau khi dùng kháng sinh

C. Dexamethason trước khi dùng kháng sinh

D. Doxycycline

E. Piperacillin/tazobactam

XI-44

Bệnh nhân nữ 24 tuổi đến khám vì lý do đau đầu. Bệnh nhân lần đầu bị những cơn đau đầu tái phát này hồi còn đang đi học cấp 3, tần số các cơn xuất hiện dầy hơn khi lên học đại học, cơn đau đầu luôn làm bệnh nhân thấy căng thẳng. Những cơn đau đầu xuất hiện nặng lên khi bệnh nhân bị mất ngủ, stress, hay trong chu kì kinh nguyệt. Bệnh nhân mong muốn tình trạng của mình sớm được cải thiện vì cô ta vừa mới tốt nghiệp đại học và có nhiều kể hoạch cho tương lai hơn. Bệnh nhân làm tư vấn tài chính cho một trường đại ở phòng nhân lực, công việc không có stress lớn, và mới đi làm được 2 năm nhưng đau đầu đã làm gián đoạn cuộc sống của cô ta. Cơn đau đầu xuất hiện khoảng 7 lần một tháng, khoảng >90% thời gian xuất hiện ở bên phải, và có nghe thấy tiếng mạch đập, không có aura trước cơn nhưng thỉnh thoảng có rối loạn thị giác và sợ ánh sáng trong cơn, có dị cảm và tăng nhạy cảm vùng da đầu bên đau, cường độ cơn đau từ 7-8 trong 10 điểm. Trong vòng 6 tháng trước bệnh nhân có 2 cơn chóng mặt dữ dội kèm đau đầu nhẹ khỏi sau vài giờ. Bệnh nhân không bị bở lỡ công việc do đau đầu, nhưng giảm hiệu suất công việC. Yếu tố làm nặng hơn triệu chứng của bệnh nhân là rượu vang đỏ và pho mát để lâu. Ibuproíen, acetaminophen,và Natri naprosyn không có tác dụng với cơn đau. Bệnh nhân không bị chảy nước mắt, nước mũi và không có triệu chứng gì khác, tiền sử dùng thuốc dùng thuốc tránh thai đường uống, gia đình có người gì bị bệnh đau đầu migraine cổ điển có aura. Khám không thấy bất kì triệu chứng rối loạn thần kinh nào, huyết áp bình thường. Bước tiếp theo nên làm gì để chẩn đoán và điều trị bệnh nhân này?

A. Yêu cầu bệnh nhân ghi chép cơn đau đầu về cường độ và tần số tiếp hai tháng nữa để đánh giá yếu tố làm nặng cơn đau.

B. Động viên bệnh nhân thực hiện sinh hoạt, chu kì thức ngủ đều đặn và tập những bài tập như Yoga.

C. Chỉ định cho bệnh nhân dùng rizatripan 10 mg đường uống khi bắt đầu có cơn đau.

D. Tiến hành chụp MRI sọ não

E. A, B và C

F. Tất cả các phương án trên

XI-45.

Cách khám các dây thần kinh sọ nào sau đây đúng khi tiếp cận với những bệnh nhân có triệu chứng về thần kinh?

A. Dây khướu giác: yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt và ngửi chất có mùi mạnh như rượu hay ammoniac

B. Dây thị giac: kiểm tra thị lực hai mắt bằng bảng Snellen khi bệnh nhân không đeo kính

C. Dây sinh ba: kiểm tra nhánh vận động ở mặt bằng các cử động nghiến chặt hàm, nâng vùng lông mày và nhăn trán.

D. Dây thần kinh phụ: nhún vai xoay đầu chống lại lực đối kháng

XI-46.

Bạn đang đi buồng buổi sáng để xem bệnh nhân nữ 38 tuổi nhập viện ngày hôm qua vì yếu cơ và nhìn đôi. Giấy khám khi mới vào viện ghi lại bệnh nhân có yếu cơ rõ ở vùng dây VII và dây XII và các cơ ngoại nhãn cầu với biểu hiện trợn tròn qua các lần khám. Bệnh nhân có kể rằng bệnh nhân hầu như chỉ bị nhìn đôi rõ khi xem ti vi vào buổi tối. Khám không thấy có bất thường về thần kinh, kết quả chụp CT không có gì đặc biệt. Tiền sử không có gì đặc biệt, mini test kiểm tra tình trạng tâm thần 30/30. Bước tiếp theo nên làm gì ở bệnh nhân này?

A. Khám tâm thần sâu hơn

B. MRI sọ não

C. Xét nghiệm kháng thể kháng receptor acetycholine máu

D. Định lượng chì

E. Khám mắt bằng sinh hiển vi

XI-47.

Bệnh nhân 37 tuổi bị cơn động kinh co cứng giật rung toàn thể có gia đình chứng kiến tại một bữa tiệC. Bệnh nhân không có tiền sử chấn thương, đột quỵ hay u, hiện đang thất nghiệp, đã lập gia đình và không dùng thuốc gì. Khám da không có bất thường không có biểu hiện của bệnh gan thận mãn tính. Bệnh nhân đang ở tình trạng sau động kinh, cổ cứng, bạch cầu 19000 tế bào/microL, Hct 36%, và tiểu cầu là 200000/microL, glucose 102 mg/dL, Na 136 meq/dL, Ca 9.5 mg/dL, Mg 2.2 mg/dL, SGOT 18U/L, urea nitrogen 7 mg/dL, và creatinine 0.8mg/dL.

Xét nghiệm sàng lọc chất độc trong nước tiểu thấy cocaine dương tính.

Bước tiếp theo nên làm gì?

A. Làm điện não đồ

B. Tiêm tĩnh mạch thuốc chống động kinh C. Chọc dịch não tủy

D. Chụp cộng hưởng từ

E. Xét nghiệm tìm chất gây nghiện trong máu.

XI-48.

Những bệnh lý về cơ sau được di truyền từ mẹ trừ:

A. Loạn dưỡng có Becker

B. Loạn dưỡng cơ Duchene

C. Hội chứng kearns-Sayre

D. Loạn dưỡng cơ gốc chi

E. Bệnh động kinh xơ đỏ rải rác( MERRF)

XI-49.

Một bệnh nhân được đưa đến phòng khám cấp cứu do tai nạn hai xe đâm nhau. Hiện tại không đáp ứng với đau, ngừng thở nhưng vẫn còn mạch. Triệu chứng lâm sàng nào sau đây có thể giúp loại bỏ chẩn đoán chết não?

A. Babinski dương tính cả hai bên

B. Đồng tử co

C. Mạch đều

D. Còn phản xạ gân xương

E. Bệnh nhân có đái tháo nhạt

XI-50.

Bệnh nhân nam 45 tuổi đi khám vì lý do đau đầu xuất hiện mỗi ngày khoảng 2 cơn trong 3 tuần qua. Mỗi cơn kéo dài khoảng 1 giờ và làm bệnh nhân phải thức giấc khi ngủ, kèm chảy nước mắt và đỏ mắt phải, ngạt mũi. Đau sâu, dữ dội khu trú ở nửa bên phải. Khám thần kinh không thấy dấu hiệu thần kinh khu trú. Chẩn đoán thích hợp nhất bệnh đau đầu của bệnh nhân là gì?

A. Đau nửa đầu

B. Đau đầu từng chùm

C. Đau đầu do căng thẳng

D. U não

E. Viêm mạch tế bào khổng lồ

XI-51.

Bệnh nhân nữ 72 tuổi đến khám vì những cơn đau mặt không kiểm soát được từ hàng giây đến hàng phút sau đó từ từ biến mất. Cơn xuất hiện hai lần mỗi ngày, không có dấu hiệu cảnh báo nhưng thỉnh thoảng xuất hiện khi đánh răng. Thăm khám thấy toàn trạng tốt, dấu hiệu sinh tồn bình thường, các dây thần kinh sọ không có phát hiện đặc biệt, các bộ phận khác không có phát hiện bất thường. Bước tiếp theo nên làm gì ở bệnh nhân này?

A. Chụp MRI sọ não

B. Chụp MRI sọ não cộng với dùng carbamazepine C. Dùng Carbamazepine

D. Dùng corticoid

E. Hội chẩn chuyên khoa tai mũi hang để điều trị ngoại khoa.

XI-52

Bệnh nhân nam 26 tuổi đến phòng khám cấp cứu khám vì lí do yếu cơ và khó thở. Bệnh nhân phát hiện mình bắt đầu bị yếu chân khi leo lên căn hộ của mình ở tầng 3 năm ngày trước đây. Qua các ngày tiếp theo bệnh nhân thấy tình trạng yếu cơ nặng dần và cảm giác như bị đang bị ngáng chân khi đi trên mặt phẳng, và hôm qua thì bệnh nhân không thể leo lên căn hộ của mình đượC. Bệnh nhân còn cảm thấy khó khăn khi nâng tay chải đầu, hai lần dánh rơi chai sô đa xuống sàn do yếu tay và khó thở đặc biệt khi nằm thẳng, cócảm giác như kim châm ở bàn tay và bàn chân. Bệnh nhân có tiền sử bệnh hồng cầu hình liềm. Ba tuần trước bệnh nhân phải nhập viện điều trị mất nước do ngộ độc thực phẩm với triệu chứng tiêu chảy, đau bụng và sốt nhẹ. Hai ngày sau bệnh nhân bình phục và cảm thấy có bất thường về sức khỏe trước khi các triệu chứng lần này xuất hiện. Bệnh nhân không nghiện hút và cũng không dùng thuốc gì gần đây, không đi du lịch gần đây, không ăn đồ biển, mật ong hay đồ hộp. Khám thấy, bệnh nhân vẻ khó thở, khó khăn khi phải nói hết câu và sử dụng các cơ hô hấp phụ, dấu hiệu sinh tồn nhịp thở 32 lần/phút, nhịp tim 95 lần/phút, huyết áp 112/76 mmHg, nhiệt độ 37.6°c, cân nặng 80 kg. Cử động nhãn cầu bình thường, đồng tử không giãn. Khám phổi rì rào phế nang rõ, bụng di chuyển nghịch thường với nhịp thở. Khám thần kinh cơ lực 3/5 đối xứng hai bên cả 2 chi và không còn phản xạ gân xương. Tim mạch, tiêu hóa, da bình thường. Kết quả khí máu pH 7.55, PACO2 28 mmHg, và PaO2 84 mmHg khi thở không khí phòng, vc là 800mL.

Phương pháp điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân này?

A. Dùng thuốc chống độc Botulinum

B. Truyền tĩnh mạch immunoglobulin

C. Truyền immoglbulin và thở máy

D. Truyền immunoglobulin, thở máy, và dùng ciproAoxacin

E. Thay huyết tương và dùng glucocorticoid.

XI-53.

Nguyên nhân phổ biến nhất gây huyết tắc động mạch não là?

A. Sa van tim

B. Bệnh thấp tim

C. Bệnh cơ tim giãn

D. Viêm nội tâm mạc

E. Rung nhĩ

XI-54

Đánh giá một bệnh nhân đau thắt lưng, phát biểu nào sau đây đúng về tác dụng của nghiệm pháp nâng thẳng chân?

A. Gấp mu bàn chân trong khi làm nghiệm pháp sẽ gây ra đau rễ thần kinh ở bên đối diện

B. Nâng chéo khi chân duỗi thẳng đặc hiệu cho thoát vị đĩa đệm hơn là chỉ có nâng thẳng chân

C. Nghiệm pháp nâng gập để phát hiện đau tham chiếu từ nội tạng

D. Nghiệm pháp nâng thẳng chân dương tính khi có hạn chế góc vận động của chân bị ảnh hưởng

XI-55.

Bệnh nhân nữ 37 tuổi đi khám vì đau đầu và nhìn mờ, các triệu chứng xuất hiện được một năm nay và ngày càng nặng lên. kết quả chụp MRI được trình bày ở hình bên. Chẩn đoán hợp lý nhất trong trường hợp này là gi?

B. u não nguyên phát (Glioblastoma) C. u sao bào độ thấp

D. u màng não

E. u tế bào ít gai.

XI-56.

Phát biểu nào sau đây đúng về bệnh động kinh?

A. tỉ lệ tự sát ở bệnh nhân động kinh cao hơn người thường

B. tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân động kinh không khác biệt so với nhóm chứng cùng tuổi ( age-matched control)

C. Đặc điểm chính ở bệnh nhân động kinh được kiểm soát hoàn toàn sau cùng có thể ngưng thuốc mà vẫn không xuất hiện cơn động kinh.

D. Điều trị phẫu thuật trong bệnh động kinh thùy thái dương thùy trong có hiệu quả ở trên 70% số bệnh nhân.

E. Thuốc chống trầm cảm 3 vòng làm giảm ngưỡng cơn giật và có thể cắt cơn.

XI-57

Bệnh nhân nam 54 tuổi đến phòng khám của bạn để đánh giá rung nhĩ. Bệnh nhân lần đầu tiên thấy nhịp tim bất thường 2 tuần trước và kể với bác sỹ gia đình của ông ta, bệnh nhân không có đau ngực, khó thở, buồn nôn hay các triệu chứng về tiêu hóa, tiền sử không có gì đặc biệt, bệnh nhân không có tiền sử bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, hay hút thuốc, hiện đang dùng metoprolol. Khám thấy huyết áp 126/74 mmHg, nhịp tim 64 lần/phút, áp lực tĩnh mạch cảnh không tăng, nhịp tim không đều, Sl, S2 bình thường. Phổi rì rào phế nang rõ, không có phù chi. Siêu âm tim thấy kích thước tâm nhĩ trái là 3.6 cm. Thông số tống máu thất trái là 60%. Không có bât thường về van và cấu trúc tim. Phát biểu nào sau đây về rung nhĩ và nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân lần đúng?

A. Bệnh nhân không cần dùng thuốc chống đông hay thuốc chống ngưng tập tiểu cầu vì nguy cơ huyết khối thấp.

B. Dùng warfarin thường xuyên để giảm nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân do rung nhĩ.

C. Bệnh nhân nên nhập viện để truyền heparin và khử rung điện sau đó thì không cần phải dùng thuốc chống đông.

D. Nguy cơ đột quỵ do huyết tắc ở bệnh nhân này là nhỏ hơn 1% và bệnh nhân nên uống thuốc chống đông hàng ngày.

E. Bệnh nhân nên được dùng heparin trọng lượng phân tử thấp tiêm dưới da và chuyển sang warfarin.

XI-58.

Bệnh nhân nữ 34 tuổi đi khám vì lý do yếu cơ. Bệnh nhân kể rằng khi đi cảm thấy chân trái như bị ngáng trong 2 năm nay, gần đây bệnh nhân bắt đầu đánh rơi đồ vật khi cầm, có lần đánh rơi cốc cà phê đầy lên hai chân. Bệnh nhân cũng cảm thấy rằng hình dáng và mặt của mình thay đổi qua nhiều năm cụ thể là bệnh nhân thấy khuôn mặt của mình lõm hơn, dài hơn mặc dù cân nặng không hề giảm. Bệnh nhân đã không đi kiểm tra sức khỏe trong nhiều năm, không phát hiện thấy bệnh gì trước đây. Bệnh nhân chỉ dùng các vitamin, calci kết hợp với vitamin D. Gia đình có anh trai hơn bệnh nhân hai tuổi cũng bị những triệu chứng yếu cơ tương tự. Mẹ của bệnh nhân 58 tuổi cũng được chẩn đoán là yếu cơ nhẹ sau khi anh trai đi khám nhưng không có triệu chứng. Khám thấy khuôn mặt bệnh nhân dài, nhỏ và có teo cơ thái dương và cơ cắn, nói ngắc ngứ nhẹ, khẩu cái cao và cong. Cơ lực của các cơ nội tại bàn tay, cơ duỗi cổ tay các cơ gấp gót là 4/5. Sau khi làm nghiệm pháp gọng kìm thấy rằng các cơ ở bàn tay duỗi chậm. Chẩn đoán trong trường hợp này là gi?

A. Thiếu hụt acid maltase (Bệnh Pompe)

B. Loạn dưỡng cơ Becker

C. Loạn dưỡng cơ duchnne

D. Bệnh cơ Nemaline.

XI-59.

Bệnh nhân nữ 20 tuổi được đưa đến phòng khám cấp cứu sau khi bị một cơn co cứng giật rung toàn thể. Bệnh nhân không có thông tin cá nhân không rõ tiền sử dùng thuốC. Nguyên nhân gây co giật ở bệnh nhân này là gì?

A. Bệnh mạch máu dạng bột

B. Sốt

C. Rối loạn gen

D. Nghiện chích

E. Tăng ure huyết.

XI-60.

Bệnh nhân nam 60 tuổi xuất hiện cơn giật cơ khi bị giật mình sau đó nhanh chóng xuất hiện rối loạn chức năng vỏ phù hợp với phát biểu nào dưới đây?

A. Không nhạy và cũng không đăc hiệu cho bệnh Creutzfeld-Jacob (CJD) nhưng cần đánh giá thêm tình trạng này bằng điện não đồ.

B. Không nhạy và cũng không đặc hiệu cho bệnh CJD nhưng cần đánh giá thêm tình trạng này bằng điện não đồ và MRI

C. Nhạy nhưng không đặc hiệu cho bệnh CJD và không đủ thông tin để chỉ định xét nghiệm trừ khi xuất hiện thêm những tiêu chuẩn lâm sàng khác

D. Đặc hiệu nhưng không nhạy cho bệnh CJD và do đó phải tiến hành sinh thiết não ngay để khẳng định chẩn đoán.

E. Chẩn đoán là CJD và các xét nghiệm như EEG, MRI, và cả sinh thiết não chỉ phục vụ cho mục đích tiên lượng.

Trả Lời

Sách 1000 câu hỏi đáp nội khoa - Sách 1000 giải đáp y học
Sách 1000 tình huống lâm sàng - Sách Nguyên tắc nội khoa tiếng việt Harrison - Sach 1000 cau hoi dap va tinh huong noi khoa Harrison tieng viet

XI-41. Đáp án B.

Trong bệnh nhược cơ tổn thương chính là sự giảm số lượng lớn receptor acetcholine hậu synap ở khớp thần kinh cơ (NMJ). Tình trạng này xảy ra là do kháng thể kháng receptor acetylcholine, làm giảm số lượng receptor, block vị trí hoạt động và làm tổn thương cơ hậu synap, mà không phải do thiểu hụt giải phóng acetycholine. Hàm lượng Ach-esterase thấp sẽ làm tăng sự hoạt động tại khớp thần kinh cơ. Sau cùng tổn thương trong bệnh nhược cơ xảy ra ở khớp thần kinh cơ chứ không phải là ở synap thần kinh.

XI-42. Đáp án E.

Những cơ giật cục bộ đơn giản gây các triệu chứng vận động, cảm giác, và hệ thần kinh tự chủ và không có rối loạn ý thức. Triệu chứng cử động bất thường bắt đầu ở một vùng hẹp sau đó tiến triển rộng hơn được gọi là động kinh kiểu Jacúnia (Jacúnia march). Bệnh nhân này có biểu hiện liệt Todd, đặc điểm là diễn ra từ hàng phút đến hàng giờ rồi trở về bình thường. Mặc dù viêm màng não là nguyên nhân phổ biến gây co giật ở bệnh nhân trẻ nhưng nó ít có khả năng là nguyên nhân ở những bệnh nhân đã biết rõ có rối loạn co giật. Nếu triệu chứng của bệnh nhân này tiếp diễn hàng giờ thì nên tìm nguyên nhân khác gây yếu tay bằng các xét nghiệm hình ảnh. Tổn thương cơ lực rõ rệt thường không đi với một rối loạn tâm thần tiên phát. Chụp cộng hưởng từ mạch não giúp đánh giá những rối loạn mạch máu não, nhưng không thấy có bằng chứng của xuất huyết dưới nhện hay viêm mạch.

XI-43. Đáp án C.

Sự giải phóng thành phần vách tế bào vi khuẩn sau khi bị kháng sinh tiêu diệt có thể gây khởi động phản ứng viêm do giải phóng cytokine ở khoang dưới màng nhện. Quá trình viêm này có thể dẫn tới làm tăng tổn thương hàng rào máu não và hệ thần kinh trung ương. Glucocorticoid có thể làm giảm phản ứng này bằng việc ức chế yếu tố hoai tử mô và interleukin-1, có tác dụng tốt nhất trước khi dùng kháng sinh. Những thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng dexamethasone 10 mg tiêm tĩnh mạch 20 phút trước khi dùng kháng sinh làm giảm được những biến chứng và cả tử vong. Tiếp tục dùng dexamethsone trong 4 ngày sau, có hiệu quả tốt nhât trong viêm màng não do phế cầu. Vì đây là nguyên nhân chính gây viêm màng não ở người cao tuổi và cũng nên dùng thuốc theo kinh nghiệm trong trường hợp này. Kháng sinh dùng trong trường hợp này nên là: cephalosporin thế hệ 3, vancomycin, và Ampicillin. Tuy nhiên dexamethasone có thể làm giảm khả năng khuếch tán vào dịch não tủy của vacomycin, so vậy việc dùng dexamethasone phải được cân nhắc kĩ càng trong trường hợp cần dùng phải dùng vancomycin.

XI-44. Đáp án E.

Bệnh nhân này có triệu chứng đặc trưng của đau đầu migraine không có những dấu hiệu của một rối loạn ẩn dấu. Đặc biệt là, không có các triệu chứng như đau đầu tăng lên, sốt, nôn không kiểm soát hay những bất thường thần kinh khi thăm khám, có thể là triệu chứng của một bệnh lý của não. Chóng mặt không phải là dấu hiệu của một rối loạn thần kinh tràng ương nghiêm trọng hơn bởi vì có khoảng 33 % bệnh nhân đau đầu migraine có chóng mặt có hoặc không kèm với đau đầu. Do đó xét nghiệm hình ảnh não là không cần thiết trong tình huống này. Đau đầu migraine là hội chứng đau đầu phổ biến thứ hai sau đau đầu do căng thẳng và ảnh hưởng ở nữ 15%, ở nam là 6%. Đau đầu thường xuất hiện ở cuối độ tuổi vị thành nên và đạt tỉ lệ đỉnh ở độ tuổi giữa 30. Đau đầu migraine được chia thành hai loại có aura (trước đây gọi là migraine cổ điển) và không có aura. Tiêu chuẩn chẩn đoán đơn giản hóa đã được đưa ra bởi hiệp hội đau đầu quốc tế. Đau đầu migraine được định nghĩa là những cơn đau đầu tái diễn kéo dài từ 4-72 giờ ở người khi thăm khám không có dấu hiệu bất thường, để chẩn đoán là đau đầu migraine phải có ít nhất 2 trong các triệu chứng sau đây: đau nửa đầu, đau với tính chất mạch đập, tăng lên khi cử động và cường độ từ trung bình đến nặng. Có ít nhất một triệu chứng kèm theo như: buồn nôn hoặc nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động. Giáo dục bệnh nhân và tránh kích thích là liệu pháp quan trọng trong điều trị migraine. Đau đầu migraine có thể kiểm soát nhưng không loại trừ được bằng việc thay đổi lối sống, quan trọng là xác định được yếu tố gây khởi phát của từng bệnh nhân. Ghi chép lại những cơn đau đầu giúp xác định được đặc điểm và yếu tố gây khởi phát, cũng phải ước lượng cường độ và tần số để xem có phải dùng thuốc dự phòng hay không. Liệu pháp không dùng thuốc khác để điều trị đau đầu migraine là luyện tập thường xuyên, duy trì nhịp đi ngủ-thức dậy và tránh các yếu tố gây stress. Yoga, tập khí công, thôi miên, và ngồi thiền là những can thiệp có thể giúp làm giảm stress. Khi cơn migraine cấp xuất hiện phải điều trị kịp thời để làm giảm thời gian của cơn và giảm năng suất lao động. Nếu cơn xuất hiện nhẹ, có thể dùng những thuốc giảm đau như acetaminophen hay các thuốc chống viêm non-steroid khác.

Nhưng thuốc có hiệu quả nhất trong điều trị đau đầu migraine mức độ trung bình đến nặng là thuốc kháng 5-hydroxytriptamine, ergotamine, và các thuốc triptan. Rizatriptan và almotriptan những thuốc hiệu quả nhất trong họ triptan. Nếu đau đầu migraine xuất hiện hơn 5 lần/tháng và đáp ứng kém với những thuốc đã chọn, phải chỉ định thêm thuốc để điều trị dự phòng.

XI-45. Đáp án D.

Dây thần kinh XI (thần kinh phụ) đi đôi chặt chẽ với kĩ thuật khám chuẩn xác. Khám dây I (dây khướu giác) nên tiến hành với kích thích nhẹ (ví dụ: cà phê hay kem đánh răng) để tránh những kích thích gây đau tiềm tàng vào sợi nhận cảm đau của dây V ở mũi hầu (dây sinh ba) bằng các kích thích mạch như ammoniac hay rượu. Khi khám thị lực (dây II)bệnh nhân có thể đeo kính nếu cần thiết, điều này giúp cho việc đánh giá thị lực về mặt thần kinh tránh nhầm lẫn với bệnh lý thấu kính, và phải khám từng mắt riêng rẽ. Dây sinh ba (dây V) chủ yếu là phần cảm giác và có 3 nhánh cảm giác, phần vận động chủ yếu chi phổi cho cơ cắn với động tác nhai. Nhíu mày và nhăn trán là chức năng của dây VII.

XI-46. Đáp án C.

Bệnh nhân đến khám với triệu chứng yếu cơ mặt và cơ nhãn cầu xuất hiện vào buổi tối là triệu chứng điển hình của bệnh nhược cơ. Triệu chứng xuất hiện chủ yếu vào ban đêm và hầu như không có triệu chứng vào buổi sáng. Khám những bệnh nhân này vào buổi tối và khám cơ lực nhắc lại có thể bộc lộ những triệu trứng ẩn dấu và cần phải tăng mức độ nghi ngờ. Ngộ độc chì ở phụ nữ độ tuổi này là không phổ biến, và những triệu chứng không chỉ gióti hạn ở vùng đầu. Những rối loạn tâm thần thường không lên quan đến bệnh nhược cơ và thăm khám nhắc lại để phát hiện thêm các triệu chứng nên được tiến hành trước. Chụp MRI sọ não không được chỉ đình trong thời điểm này bởi vì triệu chứng thực thể gợi ý nên chỉ định xét nghiệm huyết thanh học. Khám sinh hiển vi mắt giúp phát hiện những bất thường ở phần trước của mắt như mống mắt, thấu kính, và giác mạc.

XI-47. Đáp án C.

Cứng gáy và tăng số lượng bạch cầu dẫn đến có nhiều lo ngại về nguyên nhân viêm màng não ở bệnh nhân này, và nên tiến hành chọc dịch não tủy để loại trừ. Thêm vào đó, ngộ độc cocaine cấp có thể là nguyên nhân gây nên những co giật mới khởi phát này. Nên chỉ định chụp MRI nếu bệnh nhân có kết quả sàng lọc nguyên nhân ngộ độc và chuyển hóa âm tính. Trong trường hợp này không cần chỉ định xét nghiệm chất gây nghiện vì có thể loại trừ dựa vào triệu chứng sau cơn của bệnh nhân. Bệnh nhân đang không co giật, không có tiền sử bệnh co giật và không được điều trị những bất thường chuyển hóa bên dưới. Nên tiêm tĩnh mạch thuốc chống động kinh sớm trong thời điểm này.

Hình XI-47 Đánh giá bệnh nhân trưởng thành bị co giật.

XI-48. Đáp án D.

Loạn dưỡng cơ Becker và Duchenne đều là rối loạn di truyền gen lặn nằm trên nhiễm sắc thể X do những đột biến sai nghĩa (different mutation) của gene dystrophin nằm trên cánh ngắn, gene 2000 kb này là trong số những gene lớn nhất phát hiện trên người. Cả loạn dưỡng cơ Becker và Duchenne thường là do đột biến mất nucleotide. Tuy nhiên mất Nu trong loạn dưỡng cơ Becker thường không làm dịch khung chuyển mã nên bệnh biểu hiện muộn và nhẹ hơn. Loạn dưỡng cơ gốc chi gây ra hội chứng lâm sàng biểu hiện gồm yếu cơ chậu và cơ gốc chi tăng dần có 12 loại loạn dưỡng được nhận ra do đột biến nguyên nghĩa (unique mutation). Bệnh có thể di truyền theo cả trội và lặn trên nhiễm sắc thể thường phụ thuộc vào loại đột biến. Hội chứng Kearns-Sayre và động kinh giật cơ với sợi cơ không đều (MERFF) là những bệnh bệnh cơ do ty thể. Mỗi ty thể có một bộ gen DNA riêng biệt với bộ gene của nhân và được di truyền chủ yếu từ não bào là những rối loạn di truyền theo dòng mẹ. Hội chứng Kearn-Sayre là một rối loạn đa hệ thống có liệt cơ ngoại nhãn cầu tiến triển mạn tính (CPEO), yếu cơ ở mức độ khác nhau. MERFF thường biểu hiện ở độ tuổi từ trẻ em đến trường thành với đặc điểm lâm sàng là động kinh có cơn giật cơ, yếu cơ tiến triển, thất điều tiểu não.

XI-49. Đáp án B

Chết não được định nghĩa là sự hoạt động chức năng của não trong khi chức năng của cơ thể vẫn được duy trì nhân tạo và tim vẫn đập. Đây là một loại tổn thương não được coi tương đương như đã chết. Chẩn đoán chết não phải được xác nhận bằng các triệu chứng lâm sàng sau: không đáp ứng với bất kì kích thích nào, chứng tổ có sự phá hủy vỏ não rộng; tổn thương thân não có triệu chứng kích thước đồng tử to hay trung bình không có phản xạ ánh sáng; mất phản xạ giác mạc và phản xạ tiền đình nhãn cầu; ngừng thở chứng tỏ tủy bị phá hủy. Có hoặc không có dấu hiệu Babinski không góp phần vào chẩn đoán chết não. Đái tháo nhạt trung tâm xuất hiện do rối loạn chức năng vùng dưới đồi và thùy sau tuyến yên, triệu chứng này có thể có trong chết não nhưng không góp phần chẩn đoán xác định.

XI-50. Đáp án B

Đau đầu từng chùm có thể đau nửa đầu dữ dội và có thể thấy rõ sự xuất hiện của bệnh qua đặc điểm của đợt đau. Thông thường cơn xuất hiện một đợt khoảng từ 4-8 tuần và bệnh nhân có thể có một đến 3 cơn ngắn nghiêm trọng một ngày, sau đó có thể là một khoảng thời gian dài không đau trước đợt tiếp theo. Bệnh thường xuất hiện ở nam giữa độ tuổi từ 20-50. Đau nửa đầu thường kèm theo chảy nước mắt, đỏ mắt, ngạt mũi, sụp mi, và buồn nôn. Trong đợt bệnh rượu có thể gây khởi phát cơn. Thậm chí đau do u não có thể làm bệnh nhân thức giấc, tiền sử điển hình và khám thần kinh thấy bình thường không cho phép đánh giá quá trình tân sản ở thần kinh trung ương. Điều trị cấp cơn đau đầu từng chùm bao gồm thở oxy tuy nhiên có thể dùng lidocaine qua mũi và sumtriptan tiêm dưới da cũng mang lại hiệu quả. Điều trị dự phòng bằng prenisone, lithium, methisergide, ergotamine hay verapamil có thể mang lại hiệu quả phòng trừ các cơn đau trong đợt bệnh.

XI-51. Đáp án C.

Đau dây sinh ba chẩn đoán được bằng lâm sàng dựa hoàn toàn vào hỏi bệnh và bệnh nên được điều trị khi bệnh nhân đến khám với cơn đau kịch phát đặc trưng với tính chất dữ dội ở môi, lợi, má và cằm mất đi trong khoảng thời hàng giây đến hàng phút. Carbamazepine là thuốc dùng đầu tiên sau đó khoảng xấp xỉ 30-50% bệnh nhân phải dùng phenytoin do không đáp ứng tốt với thuốC. Phương pháp ngoại khoa như dùng tần số phóng xạ sinh nhiệt cắt rễ dây V, phẫu thuật phóng xạ dao gama, và thắt vi mạch chỉ được dùng khi điều trị nội khoa thất bại. Steroid không có giá trị trong trường hợp này vì đau dây V không phải do quá trình viêm. Không được chỉ định xét nghiệm hình ảnh trừ phi có những dấu hiệu thần kinh khu trú qua hỏi bệnh và khám lâm sàng gợi ý một nguyên nhân khác ví dụ như khối trong sọ hay xơ cứng rải rác.

XI-52. Đáp án C.

Bệnh nhân này đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của hội chứng Guillain-Barre (GBS) với triệu chứng yếu cơ tiến triển của hai hay nhiều chi, mất phản xạ, thời gian diễn biến < 4 tuần, và không phát hiện thấy có nguyên nhân nào khác. Các triệu chứng khác bao gồm sốt, yếu cơ đối xứng, và những triệu chứng cảm giác tối thiểu. Chẩn đoán này được ủng hộ hơn với bệnh dạ dày xuất hiện trước. Tại Mỹ có 20-30% trong tổng số các ca bị GBS liên quan đến một nhiễm tràng Campylobater jejuni xuất hiện trước. Bệnh nhân này cũng có triệu chứng của suy hô hấp do yếu thần kinh cơ biểu hiện là nhịp thở nhanh, sử dụng cơ hô hấp phụ, và hô hấp nghịch thường, kết quả khí máu cho thấy kiềm hô hấp với tăng gradient A-a tới 33 mmHg, vc là 12.5 mL/kg cân nặng. Các kết quả xét nghiệm máu bình thường, dịch não tủy có tăng protein không tăng tế bào. Điện cơ cho thấy mất myeline. Điều trị bệnh nhân bị bệnh này bao gồm đặt nội khí quản thở máy kèm truyền Ig tính mạch hoặc thay huyết tương. Tiêm Ig đường tĩnh mạch 5 lần/ngày với liều 2 g/kg cân nặng. Thay huyết tương cũng có tác dụng ngang với truyền Ig và được chỉ định 4 lần trong tuần đầu. Thở máy được chỉ định khi vc < 20 mL/kg (ND Lawn cùng cộng sự: Arch Neurol 58(6): 893, 2001) Glucocorticoid không có giá trị trong điều trị GBS. CiproAoxacin có hiệu quả làm giảm thời gian triệu chứng khi nhiễm C. jejuni nếu được dùng trong giai đoạn sớm của bệnh, nhưng nó không có tác dụng trong điều trị GBS sau nhiễm C. jejuni. Bệnh ngộ độc thịt cũng có biểu hiện liệt mềm đối xứng. Thần kinh sọ thường bị ảnh hưởng hơn trong GBS. Bệnh nhân này không có yếu tố nguy cơ bị ngộ độc thịt như dùng đồ hộp hay vết thương nhiễm trùng do tiêm chích.

XI-53. Đáp án E

Huyết tắc hình thành ở tim chiếm tới 20% tất cả các ca đột quỵ nhồi máu. Đột quỵ có thể do bệnh lý tim mạch hình thành nên cũng cục huyết khối ở thành của tâm nhĩ, tâm thất, hay các lá van bên trái. Nếu cục huyết khối bị phá vỡ nhanh thì chỉ gây cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua. Nếu tình trạng tăc mạch kéo dài hơn mô não có thể chết và gây ra đột quỵ. Những cục huyết khối từ tim thường tắc lại ở động mạch não giữa (MCA), động mạch não sau (PCA) hay các nhánh của nó nhất. Rung nhĩ là nguyên nhân thường gây huyết tắc mạch não nhất. Các nguyên nhân khác cũng thường gây tắc mạch não bao gồm: nhồi máu cơ tim, sa van, bệnh thấp tim bệnh cơ tim giãn, thêm vào đó huyết khối nghịch thường có thể xuất hiện khi có dị tật vách liên nhĩ hay còn lỗ bầu dụC. Những dị tật này có thể phát hiện được bằng siêu âm bóng cản quang. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn có thể gây huyết khối nhiễm khuẩn nếu tác động ở bên trái tim hay nếu có nguồn tạo nghịch thường.

XI-54. Đáp án B.

Nghiệm pháp nâng chéo chân dương tính khi gấp một chân gây đau chân hay mông bên đối diện. Dấu hiệu này đặc hiệu cho thoát vị đĩa đệm hơn nâng thẳng chân. Tổn thương dây hay rễ thần kinh luôn cùng bên với bên bị đau. Nghiệm pháp nâng thẳng chân (Lasègue) dương tính khi gấp chủ động một chân lại tạo ra đau lưng bất thường. Nghiệm pháp đối nâng thẳng chân tiến hành như sau. Bệnh nhân ở tư thế đứng cạnh bàn khám gấp gối rồi duỗi đùi một cách chủ động, nghiệm pháp này làm căng rễ L2-L4. Đau lưng phóng chiếu từ những cơ quan nội tạng có thể xuất hiện khi thăm khám bụng nhưng không xuất hiện khi làm nghiệm pháp ở chân. Gấp thụ động bàn chân khi làm nghiệm pháp lasègue góp phần làm căng dây thần kinh hơn nhưng không giúp thêm thông tin cho chẩn đoán.

XI-55. Đáp án D.

Hình ảnh này cho thấy một khối gắn vào màng não với đuôi màng cứng. Những u màng cứng khác có thể xuất hiện theo cách này, nhưng theo các phương án đã liệt kê u màng não khó có thể xuất hiện theo cách này. u màng não phát triển từ những tế bào có tăng các hạt màng nhện, chúng thường lành tính và bám vào màng cứng, hiếm khi xâm lấn vào não, thường gặp ở nữ hơn và thường mắc ở tuổi trung niên. Phẫu thuật cắt toàn bộ khối u có thể chữa được bệnh, u sao bào độ thấp và u sao bào độ cao (glioblastoma) thường xâm nhập vào mô não bên cạnh và hiếm khí có viền rõ như trên hình chụp này. u tế bào ít gai chiếm khoảng 15 % tổng số u các tế bào thần kinh đệm và có hình ảnh calci hóa khoảng 30% số trường hợp, diễn biến lành tính và đáp ứng tốt hơn so với liệu pháp gây độc tế bào hơn các u tế bào thần kinh đệm khác, vì u tế bào ít gai có thời gian sống thêm trung bình là 7-8 năm. Abcess não đặc trưng bởi hình vòng nhẫn tăng tỉ trọng ở vùng vỏ, thường có hiệu ứng khối, và thường có bằng chứng của viêm trên MRI.

XI-56. Đáp án B

Lựa chọn liệu pháp điều trị cho bệnh nhân động kinh phụ thuộc vào nguyên nhân, loại co giật và yếu tố từ người bệnh. Mục tiêu là ngăn ngừa cơn giật và hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốC. Liều tác dụng tối thiểu được xác định bằng thử nghiệm và thất bại. Trong việc lựa chọn liệu pháp điều trị tương tác thuốc là yếu tố cân nhắc cốt lõi, một số thuốc như thuốc chống trầm cảm 3 vòng có thể làm giảm ngưỡng cơn giật do đó nên tránh dùng. Những bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị và kiểm soát được hoàn toàn cân giật có thể ngừng điều trị, trung bình có khoảng 70% ở trẻ em và 60% ở người lớn có thể ngừng điều trị. Những yếu tố giúp cho việc ngừng điều trị bao gồm kiểm soát cơn giật bằng thuốc hoàn toàn trong vòng từ 1-5 năm, khám thần kinh thấy bình thường, EEG bình thường, loại cơn giật đơn giản. Trái lại có khoảng 20% số bệnh nhân kháng thuốc hoàn toàn và phải cân nhắc điều trị ngoại khoa ví dụ điển hình như: xơ thùy thái dương trong, cắt thùy thái dương có thể giúp 70% trong số những bệnh nhân này không còn cơn giật, và 15-25% giảm rõ rệt tần số xuất hiện cơn giật. Còn phải quan tâm đến những vấn đề khác nữa ở bệnh nhân động kinh, những rối loạn tâm thần xuất hiện sau như trầm cảm, lo âu, và những rối loạn về hành vi có thể xảy ra. Khoảng 20% số bệnh nhân động kinh bị trầm cảm, với tỉ lệ tự tử cao hơn so với nhóm chứng cùng tuổi. Bệnh nhân cũng bị ảnh hưởng về khả năng kiểm soát và tiến hành công việc và các hoạt động xã hội. Hơn nữa, tỉ lệ tử vong ở người bị động kinh gấp từ 2-3 lần so với nhóm chứng. Mặc dù tỉ lệ tử vong tăng là do nguyên nhân gây động kinh nhưng cũng có số lượng đáng kể bệnh nhân bị chết do tai nạn, cơn giật lặp lại kéo dài và một hội chứng gọi là hộ chứng động kinh chết đột ngột không mong muốn (SUDEP), nguyên nhân của hội chứng này vẫn chưa rõ, nhưng những nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề tác động của thân não lên chức năng tim phổi.

XI-57. Đáp án D.

Rung nhĩ không do căn nguyên thấp là căn nguyên phổ biến nhất của huyết tắc não. Cơ chế của điều này được cho là những sự hình thành những cục huyết khối ở tâm nhĩ hay phần tiểu nhĩ. Nguy cơ đột quỵ trung bình hàng năm khoảng 5%, tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi tác, tăng huyết áp, hoạt động chức năng của tâm thất, huyết tắc từ trước, đái tháo đường, chức năng tuyến giáp. Những bệnh nhân tuổi nhỏ hơn 60 không có bệnh về cấu trúc của tim, không có một trong các yếu tố nguy cơ trên thì tỉ lệ huyết tắc tim hàng năm rất thấp khoảng 0.5%. Do đó những bệnh nhân này được khuyến cáo nên dùng aspirin hàng ngày để phòng ngừa đột quỵ. Những bệnh nhân cao tuổi có nhiều yếu tố nguy cơ hơn có nguy cơ đột quỵ khoảng từ 10-15% và phải dùng warfarin. Khử rung được chỉ định cho những bệnh nhân có triệu chứng và vẫn muốn còn khả năng duy trì nhịp xoang. Tuy nhiên có nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nguy cơ đột quỵ tăng lên theo thời gian từ vài tuần đến vài tháng sau khi can thiệp thành công và những bệnh nhân này vẫn phải dùng thuốc chống đông trong một thời gian dài. Tương tự những nghiên cứu khác cũng cho thấy, những bệnh nhân không đáp ứng với khử rung, và cũng không muốn đốt bằng catheter có tỉ lệ tử vong và tỉ lệ tàn tật (bệnh nhân được kiểm soát) và chống đông tương tự như những bệnh nhân lựa chọn khử rung. Heparin trọng lượng phân tử thấp có thể được dùng để làm tăng tác dụng của warfarin và giúp quá trình chống đông ở bệnh nhân ngoại trú đã lựa chọn.

XI-57. Đáp án D.

Có hai dạng loạn dưỡng trương lực cơ được nhận thấy trên lâm sàng, cả hai đều di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Loạn dưỡng trương lực cơ typ 1 (DM1) là dạng phổ biến nhất và được nghĩ nhiều đến nhất ở bệnh nhân này. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn này bao gồm khuân mặt “lưỡi cày” do teo cơ vùng mặt và yếu cơ vùng cổ. Trái với loạn dưỡng cơ ( Beker và Duchenờn), DM1 thường có yếu cơ vùng ngọn chi. Khẩu cái, hầu, lưỡi cũng bị ảnh hưởng và gây ra giọng nói lắp bắp, không duỗi được cơ sau khi nắm chặt bàn tay là đặc điểm của bệnh mất trương lực cơ. Mất trương lực cơ có thể phát hiện bằng cách gõ các cơ ô mô cái. Hầu hết bệnh mất trương lực có xuất hiện ở thời điểm 5 tuổi nhưng triệu chứng yếu cơ để dẫn tới chẩn đoán có thể không xuất hiện cho đến tuổi trưởng thành. Bất thường dẫn truyền của tim và suy tim cũng là nguyên nhân phổ biến của loạn dưỡng trương lực cơ. Chẩn đoán xác định thường có thể chỉ dựa vào lâm sàng ở những người có triệu chứng điển hình và có tiến sử gia đình, Điện cơ giúp khẳng định chẩn đoán. Xét nghiệm gene của bệnh DMllặp bộ ba nucleotide ở nhiễm sắc thể thứ 19. Biểu hiện bệnh sớm xuất hiện khi tăng số đoạn lặp và làm biểu hiện lâm sàng nặng hơn ở thế hệ gen được biểu hiện. Loạn dưỡng trương lực cơ typ 2 (DM2) gây yếu cơ ở gốc chi là chính và cũng được gọi là bệnh trương lực cơ gần (PROMM), những đặc điểm khác cũng giống như DM1. Thiếu acid maltase (thiếu glusidase, hay bệnh Pompe) có 3 dạng, và chỉ có một dạng duy nhất khởi phát ở tuổi trưởng thành. Dạng này chủ yếu là yếu cơ hô hấp và thường có biểu hiện lâm sàng. Như đã nói ở trên, loạn dưỡng cơ Becker và Duchenne chủ yếu là yếu gốc chi và di truyền trên nhiễm sắc thể X. Loạn dưỡng cơ Becker thường biểu hiện ở độ tuổi muộn hơn Duchenne và có quá trình diễn biến bệnh dài hơn, ngoài ra những đặc điểm khác tương tự nhau. Bệnh cơ hình que (nemaline myopathy) đặc điểm là hình dáng sợi cơ giống que khi sinh thiết, bệnh thường khởi phát ở trẻ em với bộ mặt giống như loạn dưỡng trương lực cơ với mặt dài và hẹp, di truyền trội trên NST thường.

XI-59. Đáp án D.

độ tuổi vị thành niên và khi bắt đầu trưởng động kinh nguyên phát hay do di truyền thường hiếm hơn và phổ biến là động kinh mắc phải do tổn thương hệ thần kinh trung ương. Những nguyên nhân phổ biến gây động kinh ở người lớn là: chấn thương sọ não, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương (CNS), u não, tổn thương hệ thần kinh bẩm sinh, nghiện hút hay hội chứng cai. Sốt hiếm khi gây động kinh ở người trên 12 tuổi. Bệnh mạch máu dạng bột và tăng ure máu phổ biến hơn ở người cao tuổi.

XI-60. Đáp án B.

Cơ giật cơ khi bị giật mình là một dấu hiệu đáng lo ngại nhưng không đặc hiệu cho bệnh CJD, mặc dù nó có xuất hiện nhiều hơn trong khi ngủ. Sa sút trí tuệ thể Lewy, bệnh Alzeimer, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương và động kinh có giật cơ tất cả có thể gây giật cơ. Cả EEG và MRI đều có thể giúp phân biệt được CJD và những rối loạn này. Trên MRI thấy dải sáng ở vùng vỏ và tăng tín hiệu ở vùng hạch nền khi chụp FLAIR là những đặc điểm của bệnh CJD.

Trên hình ảnh điện não đồ có giá trị nếu phát hiện có những cơn phóng điện xuất hiện ở cùng một vị trí tồn tại từ l-2s, nhưng chỉ thấy ở khoảng 60% các trường hợp, các triệu chứng khác ít đặc hiệu hơn. Xét nghiệm miễn dịch đặc hiệu với sản phẩm phân hủy của những protein gây bệnh (PrPSx) khi tiến hành sinh thiết não có thể cần thiết để khẳng định chẩn đoán trong một số trường hợp. Tuy nhiên, những protein này không phải nhất loạt đều xâm nhập vào não nên có thể có âm tính giả. Cả phẫu thuật viên và nhà giảu phẫu bệnh đều phải được cảnh báo để sử dụng những thận trọng đã được chuẩn hóa trong những trường hợp này. Những protein này không thể định lượng được từ dịch não tủy (CSF). Dịch não tủy trong bệnh CJD thường không có biến đổi ngoài việc có tăng nhẹ protein. Nhiều bệnh nhân có tăng chủ yếu là protein 14-3-3 trong dịch não tủy. Xét nghiệm này một mình nó thì không nhạy và cũng không đặc hiệu bởi vì bệnh nhân bị viêm não do herpex simplex, sa sút trí tuệ do nhồi máu nhiều lần, và đột quỵ cũng có thể có tăng protein này tương tự.

 

BỆNH DA LIỄU - HARRISON TIẾNG VIỆT

Chương 2: DINH DƯỠNG ( đang cập nhật )

Chương 3: UNG THƯ VÀ HUYẾT HỌC

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4 - PHẦN 5 - PHẦN 6

Chương 4: BỆNH TRUYỀN NHIỄM.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4 - PHẦN 5 - PHẦN 6 - PHẦN 7 - PHẦN 8 - PHẦN 9

Chương 5: TIM MẠCH.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4 - PHẦN 5 - PHẦN 6 - PHẦN 7

Chương 7: TIẾT NIỆU.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3

Chương 8; TIÊU HÓA.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4

Chương 9: CƠ XƯƠNG KHỚP VÀ MIỄN DỊCH

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3

Chương 10 : NỘI TIẾT-CHUYỂN HÓA.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4 - PHẦN 5

Chương 11: THẦN KINH.

PHẦN 1 - PHẦN 2 - PHẦN 3 - PHẦN 4

Chương 12: DA LIỄU.

PHẦN 1

Đây là cuốn sách nguyên tắc nội khoa Harrison tiếng việt dày gần 1000 trang với hàng nghìn câu hỏi đáp và tình huống lâm sàng . Sách được các bạn sinh viên diendanykhoa dịch thuật, hy vọng cuốn sách sẽ giúp các bạn sinh viên học hỏi được các kiến thức bổ ích tự tin sử lý tình huống sau này

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com