THƯƠNG TÍCH MẠCH MÁU


Thương tích mạch máu nhằm chỉ những tổn thương do vết thương (vật nhọn, đạn, mảnh) và đụng giập (vật nặng đè vào) tác động vào mạch máu. Nhưng tác nhân trên có thể làm thương tổn động mạch, tĩnh mạch, tất nhiên là cả phần mềm, xương và thần kinh. Bản thân mạch máu có khi chỉ bị tổn thương lớp nội mạc hoặc lớp nội mạc kèm với lớp giừa (cơ) hoặc cả ba lớp. Như vậy sau khi bị thương không nhất thiết phải có chảy máu, mà có khi chỉ là tắc lòng mạch hay máu tụ dưới da. Ngoài những nguyên nhân trên đôi khi còn gặp thương tích mạch máu do giảm tốc độ đột ngột (tai nạn giao thông, máy bay rơi) động mạch chủ bị giằng xé giữa phần di động và phần cố định, gây rách lớp nội mạc và lớp cơ; với vũ khí hiện đại có tốc độ cực nhanh (1000m/giây), viên đạn di xuyên qua cơ thể tạo thành một khoảng trống tức thời, làm tổn thương mạch máu một cách gián tiếp chứ không đụng chạm trực tiếp.


I. CHẨN ĐOÁN THƯƠNG TÍCH MẠCH MÁU


Cần phải bỏ ý định của một thói quen sai lầm là cứ phải chảy máu mới nghĩ đến Vết thương mạch máu, những biểu hiện lâm sàng của một tổn thương động mạch như sau:

1. Vết thương đang chảy máu

Máu chảy ra ngoài, nếu động mạch ở nông dưới da (động mạch đùi, động mạch cảnh) thì có thể thấy máu phun thành tia, còn thông thường do vướng phần mềm nên máu tràn ra ngoài, khó có thể phân biệt đây là máu động mạch hay máu tĩnh mạch, nhất là trong điều kiện sơ cứu tại chỗ. Vấn đề chỉnh lúc này là tìm cách cầm máu và chuyển nhanh nạn nhân đến bệnh viện.

2. Vết thương đã ngừng chảy máu

Do phần mềm bao bọc hoặc do sơ cứu nên vết thương không còn chảy máu nữa, biểu hiện bên ngoài chỉ như một vết thương phần mềm. Cần chú ý rất dễ bỏ sót. Tìm hội chứng thiếu máu ở phía

ngoại biên, thể hiện bằng không có mạch hoặc mạch yếu hơn bên đối diện, chi lạnh, vận động và cảm giác giảm, da có thể nhợt nhạt hơn (nhưng có khi tím hơn do tĩnh mạch bị chèn ép). Vị trí Vết thương chỉ đóng vai trò gợi ý khi nằm trên đường đi của động mạch.

3. Máu tụ dưới da

Máu chảy ra ngoài lòng mạch nhưng được phần mềm bao bọc nhất là lớp cân ngăn không cho chảy ra qua da, tạo thành một khối máu tụ. Khôi này vì thông với mạch máu nên to lên nhanh chóng, căng và có khi thấy đập. Nghe có thể thấy tiếng thổi, mạch ở phía dưới vẫn còn.

4. Tắc mạch

Thường do đụng giập mạch máu, lớp nội mạc bị thương tổn gây máu cục lấp lòng mạch, mạch máu có thể bị tắc sau một vết thương, cục máu hình thành ngoài tác dụng bịt lỗ vết thương còn có thể gây bịt cả lòng mạch máu.
Dấu hiệu lâm sàng: nếu là do chấn thương kín thường rất dễ bỏ sót vì không có vết thương ngoài da, chỉ thể hiện bằng hội chứng thiếu máu phía ngoại biên.
Đứng trước một nạn nhân nghi động mạch bị thương tổn, ngoài các dấu hiệu lâm sàng, nôn có thểm khám cận lâm sàng nhất là đỗi với những trường hợp khó xác định.
Siêu âm Doppỉer nhằm phát hiện có dòng chảy và so sánh với bên lành có tương ứng không. Đây là một thăm dò rất có giá trị, có khả năng giúp chẩn đoán tới 95%.
Chụp động mạch: tính hơn hẳn của thăm dò này cho biết không những động mạch có thương tổn hay không mà còn xác định vị trí, tính chất của thương tổn. Túy nhiên không phải ở đâu cùng thực hiện được, và cũng không nhất thiết phải chụp cho tất cả những trường hợp bị thương tổn động mạch.

II. XỬ TRÍ THƯƠNG TÍCH MẠCH MÁU

1. Sơ cứu

Khi sơ cứu ngay tại chỗ thì điều cốt yếu là cầm máu. Cầm máu tạm thời thực hiện bằng những cách sau đây:

Băng ép: là biện pháp dễ thực hiện nhất và an toàn. Dùng gạc vô trùng đăp lên Vết thương, băng vòng tròn ra ngoài sao cho không thấy máu thấm ra nữa.

Nút gạc: nếu có vết thương phần mêni ở sâu thì dùng gộc nhét vào lỗ vết thương này, không cần băng vòng tròn xung quanh.

Garô: là một biện pháp cầm máu tốt, nhưng cũng rất dễ gây nên hậu quả đáng tiếc vì phần lớn là thực hiện không đúng quy cách. Chỉ nên đặt garô trong những hoàn cảnh sau: mom cụt, chi giập nát không còn khả năng bảo tổn mà phải cắt cụt, thời gian vận chuyển nạn nhân đến bệnh viện dưới 1 giờ.

2. Điều trị thực thụ

Điều kiện thực hiện:

Cần chuẩn bị những điều kiện sau đây trước khi định mổ nếu không có thì tốt nhất là không nên mổ mà chuyến đi bệnh viện tuyến trên. Những dụng cụ tối thiểu cho mổ mạch máu (kim chỉ không gây chấn thương cỡ 4/0, 5/0, ống thông Fogarty để lấy máu cục..J phương tiện hồi sức (đường truyền tĩnh mạch tốt khi cần truyên nhanh một khối lượng lớn dịch, máu) người mổ có khả năng thực hiện các thủ thuật về mạch máu (phẫu tích để tìm mạch máu cắt lọc, buộc và khâu mạch máu).

Đường mổ

Nguyên tắc là rạch rộng, vì khi động mạch bị đứt sẽ co về 2 phía, nên 2 dầu rất xa nhau. Bao giờ cũng rạch theo đường đi của mạch máu chứ không theo vết thương ngoài da.

Sửa chữa vết thương mạch máu:

Sau khi đã phẫu tích thấy rõ vết thương mạch máu (trong trường hợp động mạch bị đụng giập, đôi khi nhìn bên ngoài tướng là bình thường vì không thấy có vết thương nào) cần cắt lọc 2 đầu cho tới chô bình thường (với vết thương bên cùng cần phải cắt lọc) Sau đó mới quyết định cách thức xử trí là khâu vết thương bên khâu nôi trực tiêp, khâu nối nhờ một đoạn mạch ghép (tĩnh mạch hiển trong hay mạch nhân tạo). Trước khi khâu phục hồi lại lưu thông

dòng máu bao giờ cũng phải lấy hết máu cục ở 2 phía bằng ống thông Fogarty và rửa sạch bằng huyêt thanh có pha héparin.
Nếu không thể kháu nối được mới phải thắt động mạch, cần thắt cả 2 đầu (thường hay quên thắt đầu ngoài vì không thấy máu chảy). Một điều bát buộc phải làm và làm cho tốt trước khi khâu phục hồi lưu thông dòng máu là cắt lọc vèt thương phần mềm. Phải cắt lọc sạch, nếu không chắc chắn sẽ thất bại vì nhiễm khuẩn. Nếu có gẫy xương thì cần cố dịnh xương gẫy trước
Một điều cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định khâu nôi là đánh giá thương tổn, chỉ khâu nối khi thương tổn kèm theo với động mạch không căng quá, nếu vết thương phần mềm quá rộng phải cát lọc nhiều, không còn mô che phủ mạch máu nữa thì chỗ khâu mạch máu chắc chắn sẽ bục.
Sau khi khâu nôi xong, nhất là đối với những trường hợp đến muộn có dấu hiệu phù nề, phải mơ dọc cân.

3. Vết thương tĩnh mạch

Đốì với những vết thương tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch đùi) thì phải khâu nối lại mới đảm bảo kết quả chỗ khâu động mạch hoặc tránh phù nề chi. Nguyên tắc khâu nối tĩnh mạch không khác với động mạch, nhưng tỷ lệ thất bại do tắc cao hơn. Trong trường hợp thiếu mạch không khấu nối trực tiếp được thi phải ghép: dùng một đoạn ghép nhân tạo thường không đạt kêt quả, mà phải dùng tĩnh mạch hiển trong, làm cho rộng ra rồi ghép.

4. Chỉ định cắt cụt

Khi thấy những hoàn cảnh sau đây thì nên cắt cụt sớm chứ không nên khâu phục hồi lưu thông đòng máu:

Garô đả quá 6 giờ

Chi giập nát

Thương tổn phối hợp nặng (phần mềm, xương, thần kinh).

Dấu hiệu thiếu máu không hồi phục: các cơ cứng, đau, cảm giác da không còn, nổi nốt phỏng

5.săn sóc sau mổ

Dùng heparin tiêm nhỏ giọt tĩnh mạch hay tiêm dưới da (calci-parin) với liều lmg/kg/24 giờ.

Bất động chi nếu có gẫy xương

Để cao chân nếu có thương tổn tĩnh mạch

Khi không bắt được mạch bên ngoài hoặc có dấu hiệu thiếu máu bên ngoài thì phải nghĩ là chỗ nối đã tắc và cần mổ lại sớm.

nếu chảy máu thứ phát (khoảng sau 3-5 ngày) thì không nên khâu nôi lại mà phải thắt 2 đầu vì đã bị nhiễm khuẩn. Thắt động mạch tất nhiên có nguy cơ hoại tử do thiếu máu, nếu có đủ điều kiện thì dùng một đoạn mạch nhân tạo bắc cầu giữa 2 đầu nhưng đi vòng ra xa chỗ vết thương cũ, để tránh nhiễm khuẩn.

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com