XỬ LÍ NGỘ ĐỘC CẤP - THUỐC GIẢI ĐỘC

PGS. Đặng Phương Kiệt


XỬ LÍ BAN ĐẦU


Sơ cứu ngộ độc có thể thực hiện ngay tại nơi xảy ra tai nạn hoặc tại tuyến y tế cơ sở.
-Hít phải hơi độc: đưa ngay nạn nhân ra khỏi nơi có khí độc, tới chỗ thoáng khí rồi báo cho bệnh viện (hay trung tâm cấp cứu ngộ độc) hoặc mời bác sĩ.
-Nếu chất độc tràn trên da hay quần áo thì cởi bỏ quần áo và giội nước vào nơi có chất độc, rửa sạch bằng nước xà phòng rồi đưa tới bệnh viện.
-Nếu uống phải chất độc: nếu trót uống nhầm thuốc phải đưa ngay tới bệnh viện; nếu uống phải một hóa chất nào đó thì cho uống một cốc nước hoặc sữa, sau đó đưa ngay tới bệnh viện, không nên cho uống nước muối, dấm thanh hay nước chanh.
- Chất độc ngấm vào mắt: dùng một bình nước ấm để cao 10cm tưới lên mắt liên tục 15 phút, rồi đưa tới bệnh viện mắt.
Tất cả các tác nhân còn sót lại (thuốc, hóa chất, w.) hoặc những dụng cụ (chai, lọ, hộp, gói, nhãn, w.) đựng các tác nhân gây nhiễm độc (hay nghi gây nhiễm độc) đều phải mang theo đến bệnh viện.


XỬ LÍ TẠI PHÒNG CẤP CỨU


Nếu nạn nhân đã được mang tới phòng cấp cứu thì việc xử lí ngộ độc nên theo các trình tự sau:
Phải đảm bảo bệnh nhi thở tốt: làm thông suốt đường thở, thở oxy, đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ nếu cần.
Xử lí sốc: nếu bệnh nhi hạ huyết áp, đặt nằm và truyền các dung dịch điện giải, dung dịch dạng keo hay truyền máu, không được dùng ngay các thuốc cơ mạch (như No Adrenalin chẳng hạn) nếu chưa tiến hành truyền dịch thỏa đáng.
Xử lí bỏng: tổn thương bỏng có thể xảy ra với các tác nhân acid hoặc kiềm mạnh, hoặc các sản phẩm chưng cất từ dầu mỡ. Nơi bị bỏng phải được rửa sạch và chống nhiễm bẩn hoàn toàn bằng cách tưới huyết thanh mặn vô khuẩn hay nước vô khuẩn.
Hỏi chi tiết về ngộ độc qua thân nhân, bạn bè hoặc bản thân nạn nhân nếu trẻ còn đủ tỉnh táo để trả lời. Điều mấu chốt là phải xác định được hết thảy mọi tác nhân có thể gây ngộ độc có trong nhà: những thành viên trong gia đình đang mắc bệnh với các loại thuốc có thể gây ngộ độc, các hóa chất đi kèm các trò chơi, nghề nghiệp các thành viên trong gia đình, mức tinh khiết   của nước uống, thức ăn đột xuất, thói quen dùng thuốc, hoặc những tác nhân khác có thể gây ngộ độc.
Đánh giá các dấu hiệu sống (thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, w.) và thử nghiệm các chức năng gan, thận, hằng định nội môi để tiên lượng và đánh giá hiệu qủa Điều trị.
Trong các điều kiện không xác định, cần lấy các mẫu phẩm như dịch dạ dày, chất nôn, nước tiểu, máu để gửi thử nghiệm độc chất học.
CÁC BIỆN PHÁP CHUNG ĐỂ XỬ LÍ CHÍNH THỨC NGỘ ĐỘC
Mục tiêu ưu tiên là loại bỏ chất độc trước khi được hấp thụ và xuất hiện triệu chứng Biện pháp hóa học
-Xirô ipeca (thuốc hàng đầu):
Trẻ 1-10 tuổi uống 15ml, sau đó uống nhiều nước, nếu sau 20 phút chưa nôn cho uống tiếp liều thứ hai.
Từ 10 tuổi trở lên uống 30ml và uống nhiều nước, nếu 20 phút không nôn uống tiếp liều thứ hai.
Trẻ 6-12 tháng chỉ cho uống một lần 10ml sau đó cho uống nước, song phải được thầy thuốc giám sát
Không dùng Xirô ipeca nếu nạn nhân uống các tác nhân ăn mòn (kiềm, acid, w.) hoặc cacbuahydro (chống chỉ định tương đối) và nếu hôn mê hay co giật.
-Apomorphin (gây nôn gần 100% trong 2-5 phút): tiêm 0,07 mg/kg; nếu xuất hiện suy hô hấp, tiêm Naloxon (Narcan) 0,01 mg/kg tĩnh mạch.
Rửa dạ dày: nạn nhân đang hôn mê hay co giật hoặc mất phản xạ nôn thì tiến hành rửa dạ dày sau khi đặt ống nội khí quản. Luồn ống qua đường miệng, rửa bằng nước muối sinh lí ấm (đối với trẻ nhỏ để tránh hạ natri máu và hạ thân nhiệt), hút dịch dạ dày đầu tiên để xét nghiệm độc chất học; dùng khoảng 1 lít nước rửa dạ dày cho đến khi nước trong.
Than hoạt: lấy khoảng 30g than hoạt pha với nước thành một thứ hồ (có thể cho thêm vài giọt acid), uống 1g/kg pha 2,5 ml nước; nạn nhân có thể nôn ra một ít nhưng thường còn lại khoảng 70%.
Thuốc tẩy: có tác dụng làm tăng nhu động ruột nên làm giảm mức hấp thụ chất độc, Magiê sunfat 250 mg/kg hoặc Magiê citrat 5ml/kg (người lớn có thể uống 30g).
Chú ý: không dùng thuốc tẩy có Magiê cho người bệnh suy thận.
Bài niệu mạnh: chỉ dùng trong những trường hợp ngộ độc nặng mà nạn nhân không tự bài tiết hoặc chuyển hóa được chất độc vì phương pháp này có thể có những rủi ro.
Bài niệu bằng dịch: làm tăng mức lọc cầu thận, do vậy phần tái hấp thụ của ống thận xa ít tiếp xúc với chất độc, lưu lượng nước tiểu có thể đạt 3- 6ml/kg/giờ thay vì 0,5-2ml/kg/giờ (bình thường).
Bài niệu ion hóa , giúp cho chất độc được bài xuất mạnh nếu được duy trì ở dạng thái ion hóa.
Dùng Bicarbonat để kiềm hóa nước tiểu trong trường hợp ngộ độc Salycilic hay Bacbituric, tác dụng chậm vì chứa nhiều hợp chất acid. Acid hóa nước tiểu bằng Acid ascorbic 0,5-1g (uống hoặc truyền tĩnh mạch) sẽ cho pH nước tiểu ở mức 4,5 - 5,5 hoặc Amonclorua
2- 6g/ngày hoặc 75 mg/kg/ngày, chia 4 lần (uống).
Bài niệu thẩm thấu (ngăn ngừa tái hấp thu một chất độc trong ống thận gần, quai Henle và các ống thận xa).
Mannitol 0,5g/kg/liều (dung dịch 25%), truyền tĩnh mạch trong 4-6 giờ.
Giám sát các điện giải trong nước tiểu, huyết thanh, thể trạng và áp lực tĩnh mạch trung tâm nếu có chỉ định.
Chống chỉ định trong bệnh tim, vô niệu hoặc thiểu niệu, hạ huyết áp và phù phổi.
Thuốc lợi tiểu: Furosemid (Lasix) 2mg/kg/liều, tiêm tĩnh mạch.
Thẩm phân: phải được xem là một bộ phận của điều trị, hỗ trợ nếu điều kiện nạn nhân thỏa mãn một trong các tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn lâm sàng:
• Hôn mê giai đoạn 3 hay 4 hoặc tăng hoạt động do một chất độc có thể thẩm phân được và không thể điều trị được bằng các biện pháp bảo tồn.
• Hạ huyết áp đe dọa chức năng thận hoặc gan và không thể điều trị được bằng truyền dịch.
• Rối loạn toan-kiềm nặng hoặc rối loạn điện giải nặng không đáp ứng với trị liệu thông thường.
• Hạ thân nhiệt và tăng thân nhiệt rõ.
Thẩm phân được chỉ định dựa trên điều kiện bệnh nhi (nói chung nếu hôn mê sâu qúa độ 3) do các tác nhân sau:

Alcohol
Amon
Amphetamin
Anilin
Kháng sinh
Barbituric (chậm)
Acid boric

Bromua
Canxi
Cloralhydrat
Fluorua
Iodua
Ioniazid
Mejuobamat

Paraldehyd
Kali
Quinindin
Quinin
Saticilic
Strychnin
Thiocganat

 

Đối với trẻ nhỏ, thẩm phân màng bụng và thay máu có lợi hơn so với thẩm phân máu cả về mặt điều chỉnh rối loạn điện giải, hằng định nội môi lẫn loại bỏ chất độc.
Các biện pháp hỗ trợ áp dụng đồng thời
Hỗ trợ hô hấp: làm thông suốt đường thở, cung cấp đủ oxy (ấm và ẩm), trở mình bệnh nhân nhằm tránh viêm phổi, chỉ đặt ống nội khí quản và thở máy khi cần thiết. 
Hỗ trợ tim: xử lí sốc và loạn nhịp.
Dịch-hằng định nội môi: bù dịch đã và đang mất, điều chỉnh các rối loạn điện giải; nếu suy thận, có thể tiến hành thẩm tích.
Huyết học: điều trị huyết tán bằng truyền khối hồng cầu, truyền máu toàn phần nếu chảy máu ồ ạt.

Hệ thần kinh trung ương
Chống co giật bằng Diazepam hay Phenobarbita] (tĩnh mạch). Chăm sóc hôn mê kéo dài.
Liệu pháp kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn, không nên dùng kháng sinh "bao vây".
Giám sát các chức phận sống, tránh kích thích hệ thần kinh trung ương, đảm bảo dinh dưỡng.
THUỐC GIẢI ĐỘC
Các thuốc giảị độc đặc hiệu cần được sử dụng trong phần lớn các trường hợp ngộ độc cấp ở trẻ em. Bảng 15.1 liệt kê các thuốc hoặc các chất dễ tìm được làm thuốc giải độc:


Bảng 15.1 MỘT SỐ THUỐC GIẢI ĐỘC VÀ CÁCH DÙNG


Thuốc giải độc

Chất độc liên quan

Liều lượng thuốc giải độc

Dimercaprol
(BAL)

As, Bis,  CL-, Cơ, Cu, Fe, Pb, Mg, vv.

3- 4 mg/kg/liều tiêm bắp cách 4- 8 giờ/liều, trong 5 ngày, sau đó 3 mg/kg, cách 12 giờ

Penicillamin

Pb, Cu, Fe, Hg

25-50 mg/kg/ngày, uống, chia nhiều lần, liều tối đa 1g/ngày

Amin hoặc Natri nitrit và thiosunfat

Cyanit

Amin/Natri nitrit 0,33 ml/kg dung dịch 3%, tiêm tĩnh mạch với tốc độ 2,5-5,0 ml/phút, tiếp theo Natri thiosunfat 1,65 ml/kg dung dịch 25%, tiêm tĩnh mạch với tốc độ 2,5 - 5ml/phút

Naloxon
(Narcan)

Thuốc ngủ (Opi)
Propoxiphen

0,01 mg/kg/liều tĩnh mạch;
nếu không có đáp ứng sau 2
phút, cho 0,03 mg/kg tĩnh
mạch, tiếp tục cho đến khi hết hậu qủa của thuốc ngủ

Vitamin K

Varfarin và
Bishydroxicoumarin

2,5 mg/kg tiêm bắp hoặc tĩnh mạch

Deferioxamin

Fe

50 mg/kg tiêm bắp (4 giờ) tối đa 1g (4 giờ); nếu nhiễm độc nặng, tiêm tĩnh mạch không qúa 15 mg/kg/giờ, không qúa 6g trong 24 giờ

Atropin sufat
hoặc Pralidoxin
Clorua
(Protopam)

Thuốc trừ sâu có
phospho hữu cơ (ức chế
cholinesteraza)

1-4 mg hoặc 0,05 mg/kg, tiêm tĩnh mạch nhắc lại với liều 2 mg cách 2-5 phút cho đến khi có dấu hiệu ngộ độc Atropin;
Protopam 10-25 mg/kg tĩnh
mạch chậm, nhắc lại sau 12
giờ nếu cần

Xanh metylen

Methemoglobin huyết Do Nitrit anilin, Clorat
Phenacetin, Nitơ, Benzen, Sunfamid, Quinon

1-2 mg/kg tĩnh mạch dung dịch 1% và nhắc lại sau 4 giờ nếu cần

Clopromazin

Amphetamin

1 mg/kg, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch trong 6 giờ

Diphenhydramin
(Benadryl)

Phenothiazin (phản ứng ngoại tháp)

1-2 mg/kg, tiêm tĩnh mạch 6 giờ/lần (4 liều/ngày), liều tối
đa độc nhất là 50mg tĩnh mạch

 

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com