ĐỘT QUỴ TRÊN BỆNH NHÂN RUNG NHĨ VÀ TÌNH HÌNH
DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ
TẠI CÁC KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI

Đột quỵ là nỗi ám ảnh không chỉ cho người bệnh, người nhà bệnh nhân mà cả thầy thuốc. Theo thống kê của tổ chức đột quỵ thế giới - Đại Học Melbourn, Úc, hàng năm, có khoảng 16 triệu tường hợp đột quỵ, với khoảng 6 triệu trường hợp tử vong. Hai thập kỷ qua, gánh nặng của đột quỵ đã tăng 20%. Trên 80% đột quỵ xảy ra tại các nước có thu nhập thấp của thế giới, trong đó có Việt Nam. Như vậy, liệu chúng ta có thể làm gì để dự phòng đột quỵ?

Theo Wolf và cộng sự, trong tạp chí Stroke 1991, nhóm nghiên cứu đã công bố 15% trường hợp đột quỵ là do rung nhĩ, nghĩa là cứ 6 trường hợp đột quỵ, sẽ có 1 trường hợp xảy ra trên bệnh nhân rung nhĩ. Thật vậy, một bệnh nhân rung nhĩ có nguy cơ đột quỵ xấp xỉ 5 lần cao hơn so với bệnh nhân không có rung nhĩ. Theo Fuster cộng sự (Circulation 2006); Lin và cộng sự (tạp chí Stroke 1996); cùng Friberg (tạp chí tim mạch Châu Âu Euro Heart Journal - 2010), khẳng định “Đột quỵ liên quan đến rung nhĩ thường nghiêm trọng hơn đột quỵ do các nguyên nhân khác”. Vì thế, dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ cũng là một trong những chiến lược để chúng ta giảm tải đột quỵ nói chung cho thế giới và nói riêng tại Việt Nam.

Tuy nhiên, trước khi nói đến dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ, chúng ta cần nhắc lại “khái niệm rung nhĩ”. Rung nhĩ là sự bất thường kéo dài của nhịp tim thường gặp nhất (rối loạn nhịp tim). Rung nhĩ được đặc trưng bởi sự truyền các tín hiệu điện nhanh và rối loạn trong tâm nhĩ. Khi tâm nhĩ co thắt theo một kiểu nhanh, không đều và không hiệu quả, dẫn đến việc dòng máu đi khắp cơ thể thay đổi, ứ trệ, dồn máu lại tại tâm nhĩ và hình thành cục máu đông, cục máu đông từ buồng tim, theo dòng tuần hoàn lên não gây đột quỵ. Việc chẩn đoán rung nhĩ đơn giản, chỉ cần ECG:

ECG của bệnh nhân AF đặc trưng bởi hoạt tính điện bị rối loạn: Sóng P bình thường được thay thế bởi các sóng nhanh không đều và khoảng R-R không đều.

Các khuyến cáo về phát hiện và chẩn đoán rung nhĩ:
- Guideline của ACCF/AHA/HRS 2011:

Chẩn đoán AF nên dựa trên bệnh sử và khám lâm sàng, được xác định lại bằng ECG, đôi khi được đo từ xa ở cạnh giường bệnh hoặc đo Holter ngoại trú.

Tất cả bệnh nhân AF nên được siêu âm tim qua lồng ngực để xác định bệnh lý van tim. Xét nghiệm máu để đo chức năng tuyến giáp, thận và gan cũng được thực hiện khi đánh giá một bệnh nhân rung nhĩ.
- Guideline của ESC 2010:
Điện tâm đồ là cần thiết để chẩn đoán AF.Bất kì rối loạn nhịp nào trên ECG có các đặc điểm của AF và kéo dài đủ lâu trên 12 chuyển đạo của ECG, hoặc ít nhất 30 giây trên một dải nhịp, nên được xem như là rung nhĩ.
Theo tạp chí Y học 1987, (Med. 1987; 147: 1561-4): Tỉ lệ rung nhĩ trên dân số chung là 1.5-2% và gia tăng theo tuổi:
+ <60 tuổi : khoảng 1%.
+ 75 đến 84 tuổi 2: khoảng 12%.
+ Hơn 1/3 số lượng bệnh nhân rung nhĩ là trên 80 tuổi.

Biểu đồ rung nhĩ theo tuổi (tham khảo: Eur Heart J. 2010;31:2369-429).

Chiến lược phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ:
+ Điều trị các yếu tố nguy cơ đột quỵ khác ngoài AF v.d. Tăng huyết áp, đái tháo đường.
+ Điều trị chống huyết khối để phòng ngừa việc hình thành huyết khối trong tim.
Thuốc kháng đông: kháng vitamin K (VKA), kháng đông đường uống mới (NOACs hoặc non-VKA).
Điều trị kháng tiểu cầu: ASA, clopidogrel.
+ Các chiến lược khác: Các chiến lược này không thay thế cho điều trị chống huyết khối.
Chuyển nhịp?
Đốt rung nhĩ?
Thuyên tắc tiểu nhĩ trái (v.d. PROTECT AF1)?
Nói riêng về việc dự phòng đột quỵ bằng kháng đông, năm 2012, Tổ chức Tim Mạch Châu Âu công bố khuyến cáo dự phòng đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ với thuốc kháng đông uống:

Tuy nhiên, liệu việc sử dụng phác đồ dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ đã được vận dụng trong lâm sàng như thế nào? Đặc biệt khi kháng Vitamin K còn nhiều bất cập dù tuổi thọ đã ngoài 60, trong khi kháng đông mới vừa ra đời thập kỷ này. Tại Hội nghị Tim mạch Châu Âu 2015, diễn ra hôm 28/8-3/9/2015 ở Luân Đôn, Hội nghiên cứu huyết khối (TRI) đã công bố kết quả bước đầu công trình nghiên cứu sổ bộ có tên GARFIELD, khảo sát tình hình sử dụng kháng đông trên 28,624 bệnh nhân tại 1048 trung tâm ngẫu nhiên, thuộc 32 quốc gia trong thời gian 3/2010-10/2014.

 

Châu Á (N=7138)

Châu Âu (N=17,475)

Mỹ Latin (N-2503)

Bắc Mỹ (N=673)

Khác
(N=835)

Tuổi trung bình (SD), tuổi

67.1 (11.8)

70.7
(10.9)

69.6 (12.1)

72.1 (11.7)

69.4 (12.1)

Tuổi 65-74, %

33.3

32.3

31.8

31.6

33.3

Tuổi >75, %

28.8

40.9

38.4

44.9

37.5

Nữ giới, %

40.8

45.5

47.7

45.8

41.9

Suy tim sung huyết, %

19.1

20.5

21.2

16.8

16.2

Tiền sử tăng huyết áp, %

69.0

80.7

81.1

75.6

75.7

Đái tháo đường, %

21.8

21.3

23.7

26.3

20.4

Đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua, %

11.0

12.2

12.1

11.4

15.1

Bệnh mạch máu, %

11.3

16.2

15.5

19.2

20.4

Suy thận mạn, %

7.4

11.8

8.0

9.8

13.8

Điểm CHA2DS2-VASC (SD)

2.9 (1.6)

3.4 (1.6)

3.3 (1.6)

3.4(1.6)

3.3 (1.6)

Điểm HAS-BLED (SD)

1.4 (0.9)

1.4 (0.9)

1.5 (0.9)

1.7(0.9)

1.7(1.1)

Với nhóm bệnh nhân được dự phòng đột quỵ bằng thuốc kháng vitamin K, khả năng kiểm soát INR thành công không cao:

Thời gian đạt ngưỡng điều trị cũng khác nhau giữa các vùng (theo tiêu chuẩn quốc tế, việc kiểm soát TTR phải từ 70% trở lên mới được xếp vào đạt yêu cầu):

 

Kết luận từ nghiên cứu GARFIELD - AF cho thấy:
+ Bệnh nhân rung nhĩ của Châu Á trẻ và có INR thấp hơn các vùng khác.
+ Tại Châu Á, tỷ lệ đột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống tương đương, tuy nhiên, tỷ lệ chảy máu/tử vong do mọi nguyên nhân thấp hơn các vùng khác.
+ Khác biệt về ích lợi của kháng đông trong dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ có thể được giải thích bằng tính chất các mẫu chọn trong nghiên cứu và mở rộng phạm vi kháng đông.

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA CEA, CYFRA21-1 TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ TROPONIN T ĐỘ NHẠY CAO Ở BỆNH NHÂN NAM ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ GÚT NĂM 2016

BÁO CÁO CA LÂM SÀ NG: HẸP TĨNH MẠCH CHẬU GỐC PHẢI Ở BỆNH NHÂN CHẠY THẬN NHÂN TẠO

CƠ CHẾ KHÁNG INSULIN

CẬP NHẬT LIỆU PHÁP INSULIN THEO ADA/EASD 2015 TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶC ĐIỂM DỊ DẠNG NANG PHỔI BẨM SINH Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TỪ 1/2011-7/2015

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH THEO GOLD 2015

ĐỘT QUỴ TRÊN BỆNH NHÂN RUNG NHĨ VÀ TÌNH HÌNH DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ TẠI CÁC KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SVO2 TRONG HỒI SỨC HUYẾT ĐỘNG BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM

TẠP CHÍ : THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ MỘT SỐ CYTOKINE TRONG HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI AFB (+) TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ

CÁC TIẾN BỘ TRONG LOÃNG XƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI VIỆT NAM

SỤT GIẢM KHUẾCH TÁN PHẾ NANG MAO MẠCH Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

KẾT QUẢ NỘI SOI PHẾ QUẢN SINH THIẾT DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN U PHỔI

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ SUVMAX VỚI TÌNH TRẠNG ĐỘT BIẾN GEN EGFR Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN GIAI ĐOẠN III VÀ IV TẠI BỆNH
VIỆN BẠCH MAI


VAI TRÒ CURCUMIN – NANO CURCUMIN TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ, VIÊM LOÉT DẠ DÀY

VIÊM GAN NHIỄM ĐỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ CHẾ BỆNH SINH, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRUS C

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRÚT MẠN TÍNH KHÁNG THUỐC

NGHIÊN CỨU MỚI CHỮA BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP -BV BẠCH MAI

VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com