NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ SUVMAX VỚI TÌNH TRẠNG ĐỘT BIẾN GEN EGFR Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN GIAI ĐOẠN III VÀ IV TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI

TÓM TẮT
Mục đích: Tìm hiểu sự thay đổi chỉ số SUVmax ở bệnh nhân ung thu phổi biểu mô tuyến giai đoạn III và IV được chụp PET/CT với tình trạng đột biến gen EGFR. Từ đó ước lượng giá trị dự báo của chỉ số này với tình trạng đột biến nói trên.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 31 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn III, IV đã được xét nghiệm tình trạng đột biến EGFR (12 bệnh nhân có đột biến gen EGFR, 19 bệnh nhân không có đột biến gen EGFR) bằng test Strip Assay (ViennaLab). Sử dụng kỹ thuật PET/CT để xác định chỉ số SUVmax cao nhất tại mô phổi, hạch và tổ chức di căn.
Kết quả nghiên cứu: Chỉ số SUVmax tại các hạch và mô di căn thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có đột biến gen so với nhóm không có đột biến gen (SUVmax trung bình tương ứng tại hạch là 4,7 so với 7,8 và SUVmax trung bình ở mô di căn là 4,0 so với 7,9; p < 0,05). Chỉ số này không khác biệt ở mô nguyên phát giữa hai nhóm (SUV max tương ứng là 8,4 so với 9,3; p> 0,05).
Kết luận: Chỉ số SUVmax tại tổ chức hạch và tổ chức di căn ở những bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn III, IV có đột biến gen EGFR thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không có đột biến gen EGFR. Chỉ số này là một chỉ số dự báo tình trạng đột biến gen EGFR ở những bệnh nhân UTPBMT giai đoạn muộn.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Sự ra đời của thuốc điều trị đích phân tử nhỏ (tyrosin kinase inhibitor – TKI) là một cuộc cách mạng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn, đặc biệt là ung thư biểu mô tuyến. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của thuốc phụ thuộc vào sự hiện diện của các đột biến ở gen EGFR, có liên quan tới đáp ứng với thuốc. Mặc dù có rất nhiều các yếu tố liên quan đến đột biến gen EGFR như tuổi, giới, tình trạng hút thuốc, nhưng vẫn chưa đủ để chọn lựa cho điều trị cá thể bằng TKI. Do đó, cần phải xác định thêm các yếu tố khác cùng với xét nghiệm sinh học phân tử xác định đột biến EGFR để dự đoán mức độ đáp ứng với TKI, đặc biệt là ở các bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn [1] [2]. 18F-FDG PET/CT là kỹ thuật giúp chẩn đoán sớm, đánh giá giai đoạn, phát hiện di căn, đánh giá hiệu quả điều trị và tái phát của UTPKTBN. 18F-FDG có liên quan tới mức độ ác tính, tăng sinh của các tế bào khối u và EGFR là một nhân tố khởi đầu của con đường tín hiệu liên quan tới sự sống sót, tăng sinh của tế bào[3] [4]. Chính vì vậy, một số nghiên cứu đã chỉ ra có mối liên quan giữa chỉ số SUVmax (standard uptake value) trước điều trị của khối u với sự xuất hiện của đột biến EGFR [5].

Tại Việt Nam, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu là tìm hiểu đặc điểm chỉ số SUVmax của kỹ thuật chụp PET/CT và tình trạng đột biến gen EGFR ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ biểu mô tuyến giai đoạn III và IV tại Bệnh viện Bạch Mai nhằm mục đích tìm hiểu giá trị dự đoán của SUVmax với sự có mặt của đột biến EGFR ở những bệnh nhân này.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu

- 31 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn III, IV được chẩn đoán xác định tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (YHHN và UB), Bệnh viện Bạch Mai bằng giải phẫu bệnh mô sinh thiết, cell block hoặc mẫu mổ.
- 31 bệnh nhân này đều được phân tích đột biến gen EGFR tại Đơn vị gen trị liệu và đánh giá giai đoạn bệnh bằng PET/CT tại Trung tâm YHHN và UB - Bệnh viện Bạch Mai.
2. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân đái tháo đường type I hoặc bệnh nhân đã điều trị bằng hóa chất, xạ trị, điều trị đích trước khi chụp PET/CT.
3. Phương pháp nghiên cứu
a. Phân tích đột biến gen EGFR bằng phương pháp Strip Assay của Viennalab (Áo)
- Tách DNA từ mô xử lý formalin – vùi paraffin (FFPE) bằng kit đặc hiệu QIAamp DNA FFPETissue (Qiagen).
- Khuếch đại đoạn gen quan tâm bằng phản ứng PCR theo kit EGFR StripAssay (ViennaLab).
- Lai sản phẩm khuếch đại với đầu dò đặc hiệu được phân bố trên Test strip(ViennaLab)
- Phân tích kết quả:
* Có đột biến: có thể phát hiện được 1 hoặc nhiều đột biến gen trên tổng số 16 đột biến gen có ý nghĩa trên lâm sàng bao gồm 3 đột biến gen tại exon 18; 10 đột biến gen tai exon 19; 1 đột biến gen tại exon 20; 2 đột biến gen tại exon 21.
* Âm tính: không phát hiện được 1 trong 16 đột biến gen mà Kit có thể phát hiện được.
b. Phân tích giá trị của SUVmax và đánh giá giai đoạn bằng PET/CT:
+ Chuẩn bị bệnh nhân:
- Bệnh nhân nhịn ăn ít nhất 4 giờ trước khi chụp PET/CT.
- Bệnh nhân được thăm khám, khai thác tiền sử bệnh, lập hồ sơ cho mỗi người bệnh, đo cân nặng, chiều cao, mạch, huyết áp, nhiệt độ.
- Kiểm tra đường huyết trước khi tiêm 18F-FDG (đường huyết phải thấp hơn 8,0 mmol/l).
- Đặt đường truyền tĩnh mạch cố định. Sau khi tiêm 18F-FDG, bệnh nhân nằm nghỉ tại phòng theo dõi, hạn chế tối đa việc đi lại, nói chuyện, vận động trước khi chụp. Bệnh nhân cần đi tiểu hết trước khi chụp hình.
+ Thuốc phóng xạ F-18 FDG: Dung dịch F-18 FDG (2-fluoro-2-deoxy-D-glucose).
+ Liều dùng 0,15 – 0,20 mCi/Kg cân nặng (7 -12 mCi), tiêm tĩnh mạch.
+ Chụp hình PET/CT : tiến hành sau tiêm F-18 FDG 45 - 60 phút. Chụp toàn thân từ nền sọ đến 1/3 trên xương đùi. Chụp thêm vùng quan tâm hoặc thời điểm muộn khi cần.
+ Xử lý hình ảnh và nhận định kết quả: Kết quả được phân tích, đánh giá sau khi khảo sát hình ảnh PET, hình ảnh CT, hình lồng ghép PET/CT và tính chất hấp thu, phân bố hoạt chất phóng xạ F-18 FDG. Các chỉ số định tính như kích thước, thể tích của tổn thương, tỷ trọng, chỉ số hấp thu hoạt chất phóng xạ chuẩn (Standard uptake value : SUV) cũng được đo - tính cho mỗi tổn thương để kết hợp đánh giá kết quả cuối cùng. Giá trị SUV của tổn thương tìm thấy được so sánh với hoạt độ phóng xạ bể máu trong trung thất (SUV trung bình bể máu = 2,5). Với các giá trị SUV từ 2-2,5 thì nghi ngờ giữa tổn thương lành tính và ác tính. Với các giá trị SUV > 2,5 có thể xác định tổn thương ác tính[3][6][7].
4. Thời gian: từ tháng 11/2014 đến tháng 3/2015.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1. Đặc điểm tuổi giới của bệnh nhân nghiên cứu

Đặc điểm

Tuổi

Giới

Tiền sử hút thuốc

Tổng số

<65

>65

Nam

Nữ

Không

n

26

5

23

8

17

14

31

%

83,8%

16,2%

74,2%

25,8%

54,8%

45,2%

100,0%

Nhận xét:
- Trong 31 bệnh nhân nghiên cứu có tới 26/31 bệnh nhân < 65 tuổi chiếm 83,3%. Tuổi trung bình của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là 58,3 ± 8,4 trong đó thấp nhất là 32 tuổi và cao nhất là 74 tuổi.
- Tỷ lệ bệnh nhân nam (74,2%) cao hơn hẳn bệnh nhân nữ (25,8%)
- Bệnh nhân hút thuốc hoặc từng hút thuốc gặp ở 17/31 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 54,8%


Bảng 2. Phân loại bệnh nhân theo giai đoạn bệnh, mẫu bệnh phẩm và tỷ lệ đột biến gen EGFR

Đặc điểm

Giai đoạn bệnh

Mẫu bệnh phẩm

Đột biến EGFR

Tổng số

III

IV

sinh thiết

Mẫu mổ

Không

n

9

22

25

6

12

19

31

%

29,0%

71,0%

80,6

19,4%

38,7%

61,3%

100,0%

Nhận xét:

  1. Trong 31 bệnh nhân có 22 bệnh nhân giai đoạn IV (71,0%) và 9 bệnh nhân giai đoạn III (29,0%).
  2. Có 25/31 bệnh nhân (80,6%) được chẩn đoán đột biến gen bằng mẫu bệnh phẩm lấy từ sinh thiết.
  3. Có 12 bệnh nhân mang đột biến gen EGFR chiếm tỷ lệ 38,7%; trong đó có 8 bệnh nhân mang đột biến xóa đoạn trên exon 19 và 4 bệnh nhân đột biến điểm L858R trên exon 21.
    Bảng 3. Đặc điểm chỉ số SUVmax theo vị trí u nguyên phát và di căn

Chỉ số SUVmax

Có đột biến
eGfr

Không có đột biến EGFR

p

U nguyên phát

8,4 ± 5,2

9,3 ± 4,8

> 0,05

Tại hạch

4,7 ± 1,3

7,8 ± 4,8

<0,05

Di căn xa

4,0 ± 2,8

7,9 ± 4,3

<0,05

Nhận xét:
- Chỉ số SUV max tại u nguyên phát thấp hơn ở nhóm có đột biến gen EGFR so với nhóm không có đột biến gen EGFR nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm với p >0,05
- Chỉ số SUV max tại hạch và di căn xa thấp hơn ở nhóm có đột biến gen EGFR so với nhóm không có đột biến gen EGFR và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,05.
- Chỉ số SUV max cao nhất tại phổi và thấp hơn ở hạch và mô di căn xa.

IV. BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên 31 bệnh nhân UTPKTBN biểu mô tuyến giai đoạn III và IV cho thấy SUVmax ở hạch hoặc cơ quan di căn thấp hơn SUVmax ở khối u nguyên phát ở phổi. Đặc biệt là chỉ số SUV max tại phổi thấp hơn ở nhóm có đột biến EGFR so với nhóm không có đột biến EGFR nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Ngược lại, chỉ số SUVmax tại hạch và di căn xa ở nhóm có đột biến EGFR thấp hơn nhóm không có đột biến EGFR và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng đột biến gen EGFR rất quan trọng khi sử dụng thuốc ức chế tyrosin kinase phân tử nhỏ (Tyrosin kinase inhibitor - TKI) ở những bệnh nhân UTPKTBN biểu mô tuyến. Chính vì vậy, hầu hết các bệnh nhân UTPKTBN sẽ được xét nghiệm đột biến gen EGFR trước khi quyết định điều trị bằng TKI. Thông thường, phòng xét nghiệm sinh học phân tử sẽ sử dụng mẫu bệnh phẩm là mẫu sinh thiết hoặc mẫu mổ để xét nghiệm đột biến gen. Trong nghiên cứu này có 80,6% là mẫu sinh thiết, còn lại là mẫu mổ. Một số nghiên cứu cho thấy khi lượng DNA quá ít và số lượng các tế bào ung thư không nhiều có thể gây ra âm tính giả [4]. Chính vì vậy, trong các trường hợp này sẽ phải kết hợp các yếu tố dự đoán khác như tuổi, giới, tình trạng hút thuốc và kết quả chụp PET/CT để dự báo tình trạng đáp ứng với TKI.

Chỉ số SUVmax thấp hơn ở các trường hợp UTPKTBN biểu mô tuyến có đột biến EGFR gợi ý vai trò thúc đẩy tế bào sống sót của EGFR. Lee EY giả thiết rằng chuyển hóa tế bào tại các tổ chức di căn sẽ thay đổi sau một loạt các sự kiện của tế bào được diễn ra tạo ra quá trình di căn. Điều này có thể lý giải được bởi quá trình chuyển hóa ở các khối u nguyên phát có đột biến EGFR có thể khác với các khối u di căn. Kết quả nghiên cứu cho thấy SUVmax ở hạch hoặc tổ chức di căn ở những bệnh nhân UTPKTBN biểu mô tuyến có đột biến EGFR thì thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với những bệnh nhân không có đột biến EGFR. Tuy nhiên ở khối u nguyên phát tại phổi thì không thấy sự khác biệt giữa 2 nhóm này. Có lẽ chuyển hóa thấp tại những khối u có EGFR đột biến liên quan đến chỉ có một tỷ lệ rất ít các bệnh nhân này có biểu hiện quá mức của gen GLUT-1 so với những bệnh nhân không có đột biến EGFR (23% so với 58%) [4].

Kết quả ở bảng 3 đã cho thấy có sự khác nhau về chuyển hóa ở các tế bào khối u di căn có đột biến EGFR và khối u không có đột biến EGFR. Kết quả giá trị SUVmax trung bình tương đương với kết quả nghiên cứu của các tác giả Mak et al [8], nhưng lại thấp hơn tác giả Chung et al [9]. Sự khác nhau về kết quả có thể giải thích là do sự ảnh hưởng của type mô bệnh học lên quá trình tính toán SUVmax: tế bào vảy thường lấy nhiều FDG hơn tế bào biểu mô tuyến [3]. Đặc biệt, tác giả Huang còn cho rằng nếu SUVmax lớn hơn 9,5 thì nhiều khả năng khối u có ang đột biến EGFR [5].

Trong thực hành lâm sàng, xét nghiệm đột biến EGFR không phải lúc nào cũng thực hiện được, đặc biệt trong những trường hợp khối u ở những vị trí khó sinh thiết, hoặc bệnh nhân từ chối sinh thiết lại cho kết quả xét nghiệm lần đầu tiên không tốt. Do vậy, chỉ số SUVmax, cùng với một số chỉ số khác như tuổi, giới, tình trạng hút thuốc... là một chỉ số góp phần dự đoán khả năng đột biến của EGFR.

Cuối cùng, nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra được sự khác biệt về chỉ số SUVmax của kỹ thuật chụp PET/CT và tình trạng đột biến gen EGFR ở bệnh nhân UTPKTBN biểu mô tuyến giai đoạn III và IV. Tuy nhiên, vì không thể sinh thiết toàn bộ các tổn thương để làm giải phẫu bệnh nên bác sỹ đọc kết quả PET/CT là những bác sỹ có nhiều kinh nghiệm để loại trừ các hạch viêm và phản ứng.

V. KẾT LUẬN

Nghiên cứu tiến hành trên 31 bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến. Kết quả thu đuwọc như sau: chỉ số SUVmax tại các hạch và mô di căn thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có đột biến gen so với nhóm không có đột biến gen (SUVmax trung bình tương ứng tại hạch là 4,7 so với 7,8 và SUVmax trung bình ở mô di căn là 4,0 so với 7,9; p < 0,05); và không khác biệt ở mô nguyên phát giữa hai nhóm (SUV max tương ứng là 8,4 so với 9,3; p> 0,05). Vì vậy, chỉ số SUVmax có thể được coi là một yếu tố dự báo tình trạng đột biến EGFR trên nhóm bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến giai đoạn muộn.

 

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA CEA, CYFRA21-1 TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ TROPONIN T ĐỘ NHẠY CAO Ở BỆNH NHÂN NAM ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ GÚT NĂM 2016

BÁO CÁO CA LÂM SÀ NG: HẸP TĨNH MẠCH CHẬU GỐC PHẢI Ở BỆNH NHÂN CHẠY THẬN NHÂN TẠO

CƠ CHẾ KHÁNG INSULIN

CẬP NHẬT LIỆU PHÁP INSULIN THEO ADA/EASD 2015 TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶC ĐIỂM DỊ DẠNG NANG PHỔI BẨM SINH Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TỪ 1/2011-7/2015

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH THEO GOLD 2015

ĐỘT QUỴ TRÊN BỆNH NHÂN RUNG NHĨ VÀ TÌNH HÌNH DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ TẠI CÁC KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SVO2 TRONG HỒI SỨC HUYẾT ĐỘNG BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM

TẠP CHÍ : THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ MỘT SỐ CYTOKINE TRONG HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI AFB (+) TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ

CÁC TIẾN BỘ TRONG LOÃNG XƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI VIỆT NAM

SỤT GIẢM KHUẾCH TÁN PHẾ NANG MAO MẠCH Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

KẾT QUẢ NỘI SOI PHẾ QUẢN SINH THIẾT DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN U PHỔI

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ SUVMAX VỚI TÌNH TRẠNG ĐỘT BIẾN GEN EGFR Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN GIAI ĐOẠN III VÀ IV TẠI BỆNH
VIỆN BẠCH MAI


VAI TRÒ CURCUMIN – NANO CURCUMIN TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ, VIÊM LOÉT DẠ DÀY

VIÊM GAN NHIỄM ĐỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ CHẾ BỆNH SINH, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRUS C

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRÚT MẠN TÍNH KHÁNG THUỐC

NGHIÊN CỨU MỚI CHỮA BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP -BV BẠCH MAI

VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com