BỆNH DẠI


I.       ĐỊNH NGHĨA BỆNH DẠI


Bệnh do virus gây ra ở động vật, ngẫu nhiên truyền sang người gây viêm não và tử vong 100%
II.      BỆNH CĂN
-         Virus dại là một Rhabdovirus, yếu, phá huỷ rất nhanh với xà phòng, ether, các dẫn xuất của ammonium bậc 4, nhậy cảm với sức nóng, ánh sáng và khô ráo, Có 2 loại virus dại:
-         Virus tự nhiên có khả năng gây bệnh khác nhau tuỳ theo từng vùng, tuỳ theo động vật.
-         Virus cố định do truyền hàng loạt làm cho tính chất gây bệnh bền vững. Các tính chất này được dùng trong điều chế vacxin.
III.     DỊCH TỄ HỌC
Mỗi vùng có một loại động vật làm lan truyền bệnh.
Bệnh dại đô thị thường được truyền bởi những gia súc không được tiêm phòĩiậ (chó, mèo, hoặc các động vật khác) như ở châu Phi và châu Á. ở Việt Nam chủ yếu là chó.
Bệnh đại rừng dang phát triển nhanh chóng chủ yếu là cáo như d châu Âu, truyền sang trâu bò.
Ở châu Mỹ và Mỹ La Tinh, loài dơi hút máu và các loài dơi khác có thể là những động vật lành mang mầm bệnh làm lây sang các động vật khác.
Cả 3 loại dại dô thị, dại rừng và dại của các loài dơi đều có liên quan với nhau.
Các động vật bị bệnh dại thể hung dữ hay thể liệt đều chết sau 3 đến 6 ngày là những ổ chứa virus.
Virus dại truyền sang người chủ yếu bằng nước dãi. Từ hệ thống thần kinh trung ương virus vào các hạch nước dãi bằng đường thần kinh. Nước dãi có virus làm lây sang người khi cắn, cào, liếm hoặc hiếm hơn qua các vật bẩn. Virus không qua da lành. Đột nhập của virus có thể bị cản trở bởi áo quần nếu áo quần không bị rách.
Cũng có thể lây qua đường niêm mạc trường hợp hít phải virus trong các hang dơi hoặc qua mắt mũi hoặc tay bẩn có chứa dãi có virus.


IV.      LÂM SÀNG BỆNH DẠI


1.       Thời kỳ nung bệnh: dài. Trung bình 40 ngày nhưng có thể 15 ngày cho đến 2 năm. Nung bệnh dài do đó khi lây tiến hành tiêm phòng để làm xuất hiện miễn dịch trước khi phát bệnh.
2.       Thời kỳ khởi phát càng nhanh nếu cửa vào càng gần hệ thông thần kinh trung ương (mặt) hoặc dây thần kinh (mặt, bàn tay).
Vài tiền triệu như: ngứa chỗ cắn, rối loạn tính tình thường xuất hiện trước các triệu chứng đặc trưng.
3.       Thời kỳ toàn phát
Có 2 thể:
-         Thể hung dữ: Bệnh nhân sốt, lo lắng, trằn trọc, đôi khi có ảo giác và hoang tưởng hung dữ. Bệnh nhân có những cơn co thắt thanh quản và họng rất đau đớn gây nên triệu chứng điển hình: sợ nước, sợ gió mỗi khi trông thấy nước hoặc khi có một luồng gió nhẹ. Toàn bộ thần kinh bị kích thích: thở từng hồi, nói như đứt hơi, mắt long lanh, tai nghe rất thính, tăng tiết nước bọt làm cho bệnh nhân khạc nhổ luôn. Bộ máy sinh dục cũng bị kích thích: cường dương có khi xuất tinh liên tục.
-         Thể liệt: bắt đầu thấy mất cảm giác ở nơi bị cắn, kiến bò ngứa, rát (tê bì) rồi liệt mềm xuất hiện ở các chi dưới và lan toàn thân dần dần từ dưới lên trên (liệt hướng thượng). Tổn thương thân não kèm theo rối loạn cơ tròn. Tổn thương hành tuỷ gây liệt các dây thần kinh sọ, ngừng hô hấp và tim mạch.
-         Tiến triển: chết sau vài ngày. Thể hung dữ 3-4 ngày nhanh hơn thể liệt 5-6 ngày, xảy ra ngất trong một cơn co thắt sợ nước hoặc ngừng tim mạch hoặc hô hấp.
ở trẻ em không điển hình: mê sảng có hội chứng màng não và chết do Rối loạn hành tuỷ. Dấu hiệu sợ nước, sợ gió không rõ.


V.       CHẨN ĐOÁN BỆNH DẠI


1.       Chẩn đoán phân biệt
-         Trong thể hung dữ có sợ nước, sợ gió phải phân biệt với uốn ván (cứng hàm, co cứng từng cơn).      
-         Trong thể liệt phải phân biệt với các mầm bệnh viêm não khác, với bệnh ngộ độc thịt. Nhiều khi rất khó.
Phải theo dõi diễn biên qua 10 ngày không tử vong thì không phải bệnh dại.
2.       Chẩn đoán xét nghiệm
Xác định bằng phát hiện các kháng thể đặc hiệu trong máu và trong nước não tủy.
3.       Các tổn thương giải phẫu: 2 loại
-         Không đặc hiệu của một viêm não tuỷ
-         Đặc hiệu là các tiểu thể virus trong các tế bào tháp và hạch và trong các sừng Ammon


VI.      ĐIỀU TRỊ BỆNH DẠI


Cho đến nay chưa có phương pháp điều trị khi bệnh dại đã lên cơn, chết 100%.


VII.    PHÒNG BỆNH DẠI


1.       Xử trí khi có vết thương, vết cắn

Rửa sạch vết thương bằng nước xà phòng 20% rồi xả bằng nước sạch. Không khâu vết thương.
Tiêm phòng uốn ván
Khi vết thương ở vị trí nguy hiểm (đầu, mặt hoặc vết thương nặng) phải tiêm truyền huyết thanh kháng dại dưới da trên vết cắn 1/4 -1/2 ml/kg
2.       Tiêm vacxin phòng bệnh
Bắt buộc tiêm phòng, chó có dấu hiệu dại:
-         Chó bị đập chết ngay
-         Chó sau khi cắn bỏ chạy mất
-         Chó chết trong vòng 7 ngày sau khi cắn Chỉ định theo dõi
-         Vết cắn xa thần kinh trung ương: nhốt chó theo dõi, sau 7 ngày chó vẫn bình thường - không tiêm.
-         Vết cắn gần đầu, mặt, cổ: vừa tiêm vacxin vừa theo dõi. Nếu chó chết < 7 ngày: tiêm tiếp. Chó sống > 7 ngày: ngừng tiêm.

3.       Tiêm phòng vacxin cho chó.

Bạch Hầu
Bại liệt
Bệnh cúm
Bệnh dại
Bệnh do LEPTOSPIRA
Ho Gà
Lỵ trực khuẩn
Thức ăn bị nhiễm độc nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn do màng não cầu
Nhiễm khuẩn huyết vi khuẩn gram âm
Quai bị
Thương hàn
Uốn ván
Viêm gan do Virus

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com