Cấp cứu thoáng mất nhận biết hoặc ngất (syncope)


I.             ĐỊNH NGHĨA THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Thoáng mất nhận biết là vấn đề hàng ngày của thầy thuốc vì thường xảy ra và rất tế nhị trong chẩn đoán, do những triệu chứng chỉ xảy ra rất ngắn. Đó là tình trạng "bất an" của cơ thể, theo nghĩa rộng của danh từ.
Người ta định nghĩa thoáng mất nhận biết là: Sự suy sụp đột ngột có hồi phục các chức năng của cuộc sống giao tiếp (vận động, cảm giác và ý thức).
Định nghĩa trên loại trừ:
•             Các rối loạn ý thức một phần, là tình trạng thỉu thực sự, xuất hiện và mất đi từ từ với nhiều triệu chứng cơ năng.
•             Hôn mê mà thời gian không nhận biết kéo dài, luôn luôn phải chuyển nhanh bệnh nhân vào viện.
•             Tình trạng mất trương lực (cataplexie. cơn ngủ thoáng qua (narcolepsie), do suy giảm đột ngột trương lực cơ và ngã, không suy giảm ý thức, trong bệnh thần kinh.
Như vậy ngất là sự u ám về nhận biết có thể dẫn đến mất ý thức toàn bộ kèm theo các triệu chứng xanh xám, buồn nôn, ù tai, chuột rút và ngã, mất tiếng tim và suy sụp huyết áp động mạch.


II. NGUY CƠ THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Thiếu oxy não thứ phát gây ức chế tim và co giật sau đó 15-20 giây.
Với các biểu hiện rất khác nhau; có thể:
•             Rất nặng dẫn đến loạn nhịp và ngừng tim, hoặc
•             Rất nhẹ, chỉ là những cảm xúc thô thiển đột ngột.
Giữa hai loại đó là các hình thức trung gian, bất tỉnh, có ngã hoặc không, cần tìm hiểu sâu về nguyên nhân tim mạch, thần kinh, nhiễm độc V.V.. mới xác định được


III.           LÂM SÀNG THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Thầy thuốc được gọi đến nơi bệnh nhân ngã.
Nhận thấy:
-              Mặt bệnh nhân xám ngắt
-              Tim đập rời rạc
-              Huyết áp suy sụp
-              Thở nhanh nông.
Nên để bệnh nhân nằm lại ngay, đầu thấp, nới lỏng quần áo, đặt nơi mát. Hỏi bệnh nhân hoặc người thân để làm chẩn đoán hồi cứu.
A.            Hỏi bệnh
1.            Xác định hoàn cảnh xảy ra: Ở thế đứng hoặc do cố gắng, nhịn đói hoặc sau khi ăn, sau thời gian cố gắng sức hoặc sau chấn thương, đau đớn, đang điều trị...
2.            Xác định tính chất:
Đột ngột hoặc từ từ, dấu hiệu báo trước, mất nhận biết toàn bộ hoặc một phần, ngã hoặc không, mất nhận biết (ngất) dài hoặc ngắn, bao lâu thì tỉnh.
Nếu ngất dài thì có tăng hoặc giảm trương lực cơ, co giật, rối loạn cơ tròn, cắn vào lưỡi.
3.            Dấu hiệu báo trước: Hoa mắt, chóng mặt, ù tai, vã mồ hôi, xanh xám, buồn nôn, tim đập, ngạt thở...
4.            Cuối cùng phải hỏi lại tiền sử trước đây:
-              Thần kinh: Liệt 1/2 người, mất nói, nhìn đôi, chấn thương sọ não.
-              Tim mạch - hô hấp: Khó thở gắng sức, đau thắt ngực.
-              Thận: Đái nhiều, đái ra protéin, đái đêm.
-              Bệnh khớp nhiễm trùng.
-              Các thuốc đã dùng (benzodiazépine)
B.            Khám lâm sàng
1.            Nghe tim Xem có tiếng thổi tâm thu, tâm trương, triệu chứng của 2 van lá hoặc van động mạch chủ, tiếng ngựa phi, loạn nhịp hoặc có tiếng thổi ở cổ.
2.            Huyết áp: Phải đo trên tư thế nằm và đứng, ghi rõ tối đa và tối thiểu, bắt mạch.
3.            Thần kinh: Tìm dấu hiệu thần kinh khu trú. Không quên xem có tình trạng co giật (spasmophylie) hoặc co cứng cơ (tétanie).(dấu hiệu Chvostek, Trousseau, thở hốn hển)
4.            Toàn thân: Có rối loạn vận mạch (cơn bừng mặt, ra mồ hôi ở lòng bàn tay), gầy, xanh, hoặc béo bệu dạng da thừa của người xơ mỡ động mạch.
5.            Các xét nghiệm bổ trợ: Bao gồm:
-              Phân tích nước tiểu,
-              Tìm đường, Ca, Mg, K trong nước tiểu.
-              Công thức hồng cầu, đo CO máu.
-              Điện tâm đồ (ECG)
-              Điện não đồ (EEG), chiếu chụp sọ và cột sống
-              Soi đáy mắt và áp lực võng mạc (TAR)
Khi cần có thể ấn nhãn cầu, xoa xoang cảnh. Khi đã vào viện có thể đo điện thế Hiss.


IV.          CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Chủ yếu phân biệt với:
A.            Bệnh giả vờ: Da không xanh, mạch, cơ vẫn bình thường. Nên tìm hiểu thêm các lý do khác.
B.            Trụy tim mạch có thể đưa tới ngất, phân biệt với choáng, vì choáng không ngừng tuần hoàn, không ngừng hô hấp, và xảy ra từ từ.
c. Chóng mặt kiểu tai trong: Khi thay đổi tư thế cổ cảm giác quay như chong chóng, kèm buồn nôn, ong kêu trong tai và điếc, sau đó ngã.


V.            CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Bệnh có nhiều nguyên nhân phát sinh từ nhiều nguồn gốc: Tim mạch, thần kinh và phản xạ giao cảm.
A.            Nguồn gốc tim mạch
Tuy không nhiều nhưng thầy thuốc phải biết vì loại này nguy hiểm đến tính mạng, do:
-              Thường hay chết đột ngột,
-              Gây biến loạn sinh lý bệnh suy giảm huyết động do ngừng tim hay loạn nhịp, bệnh cơ tim.
Có hai yếu tố cần nêu là, nếu:
-              Lâm sàng âm tính: Ngất liên quan tới loạn nhịp ECG;
-              Lâm sàng dương tính: Ngất liên quan tới bệnh tim.
1.            Ngất do loạn nhịp
a.            Ngất do Stokes - adams
<a> Lâm sàng
-              Khởi phát và hết đột ngột,
-              Không có dấu hiệu báo trước,
-              Ngã ngay,
-              Thời gian bị ngắn.
Tuy nhiên cần lưu ý 4 mức độ:
•             Chi ngừng thoáng qua, biểu hiện trên bệnh nhân chỉ 10-15 giây, cơn khó chịu rất ngắn, bệnh nhân cũng không cảm thấy mình bị ngất.
•             Nếu ngừng dưới 20 giây, bệnh nhân chỉ cảm thấy chóng mặt, xanh tái, ngừng mọi hoạt động và lời nói rồi lại trở lại bình thường.
•             Nặng hơn là ngất thực sự, dài 1-2 phút. Sau đó hồi phục.
•             Nặng hơn nữa, thành bệnh ngất (état de mal syncopal), bệnh nhân mê ngáy khò khò, do tim đập chậm quá mức hoặc thiếu oxy não.
<b> Khám trong cơn: Ngoài mất nhận biết, ta thấy thêm:
-              Mạch yếu hoặc không có,
-              Tim chậm dưới 20 lần/phút,
-              Không nghe được tiếng tim do ngừng thất
-              Hoặc nhịp thất quá nhanh.
<c> Điện tim trong cơn: Cơ bản là đường điện kiểu ngừng tim,  với 3 cơ chế:
-              80% là blốc nhĩ - thất hoàn toàn: Chỉ có P, không phân biệt được QRS.
-              15% là rung thất tạm thời hoặc không: Rối loạn sóng, không có phức hợp p cũng như QRS.
-              5% là nhịp chậm nặng 15 lần/phút, không bảo đảm đủ lưu lượng tim.
<d> ECG sau cơn: có thể ECG trở về nhịp xoang bình thường, thì trước đó là cơn blốc nhĩ - thất kịch phát, nhất là blốc 2 nhánh, BBD và nửa trái sau.
•             Dù sao cũng nên chuyển bệnh nhân vào viện sớm để đặt vấn đề kích thích điện Cực buồng tim mới cứu sống được.
•             Trong cấp cứu và chuyển vận phải dùng Isoprotérénol 5 ống pha trong 250 ml huyết thanh ngọt đẳng trương, chảy chậm để làm sao có nhịp tim 60-80 lần/phút. Quá sẽ loạn nhịp nhanh.
•             Bệnh nhân khi đã vào viện cần được, tiến hành các điều trị chuyên khoa (đo điện thế bó Hiss, kích thích nhĩ phải).
b.            Các rối loạn nhịp tim khác
Các rối loạn sau đây có thể gây ngất:
-              Chậm xoang kéo dài
-              Blốc xoang - nhĩ,
-              Cơn nhịp nhanh kịch phát Bouveret,
-              Nhịp tim nhanh bộ nối kèm Wolff - Parkinson - White,
-              Cuồng động nhĩ,
-              Bệnh của tâm nhĩ xen kẽ nhịp chậm và nhịp nhanh nhĩ thu,
-              QT dài bẩm sinh: Jerwell, Romanoward.
Ngất thường xảy ra vào lúc:
•             Mới bắt đầu loạn nhịp tim, nếu mạch quá 80 đến 200 lần/phút do lưu lượng tim và huyết động bị tụt.
•             Mới hết loạn nhịp tim mà tâm nhĩ ngừng trong nhiều giây.
Đấy là không kể đến dạng ngất do xoắn đỉnh, các rối loạn do điều trị (thiếu kali máu, quinidine. xảy ra khi đang hết nhịp chậm với QT dài.
Bệnh có thể hồi phục tự nhiên nhưng đôi khi biến thành rung thất. Phải cấp cứu bằng sunfat Mg tĩnh mạch


Mọi nhịp tim nhanh trên 200 lần/phút đều có thể ngất.

 

2.            Ngất do bệnh tim
a.            Bệnh tim cản trở đến phóng máu:
<a> Hẹp van động mạch chủ: Tuỳ độ hẹp van, có ngất do gắng sức đột ngột, ngắn, hoàn toàn hoặc chỉ xỉu, hoặc ngất sau cơn đau thắt ngực. Khi ngất nhiều là tiên lượng xấu phải nghĩ đến phẫu thuật.
<b>Bệnh cơ tim tắc nghẽn: Do tâm thất trái phì đại làm tắc nạhẽn đường phóng máu, gây sụt lưu lượng tim và ngất. Chụp động mạch và sự có mặt của građien nội thất với thất 2 buồng khẳng định chẩn đoán trên.
b.            Bệnh tim cản trở van hai lá:
<a> Hẹp 2 lá: Hẹp khít hoặc có cục máu đông nằm ở tâm nhĩ trái làm hẹp thêm lỗ van.
<b> u nhầy nhĩ trái: Điển hình là ngất theo tư thế
(20% trường hợp) tức là khi người bệnh cúi xuống phía trước hoặc nằm nghiêng sang trái, u lúc lắc như cái chuông làm tắc lỗ van nên gây ngất ở tư thế đó. Chụp động mạch sẽ phát hiện được và phải mổ mới lành.
<c> Người mang van 2 lá nhân tạo khi có cục máu ở van cũng thỉnh thoảng ngất.
c.             Bệnh thiếu máu mạch vành:
Ngất ít xảy ra trong thời gian thiếu máu, nhưng có thể gặp trong các giai đoạn sau:
<a> Khi đang có cơn đau thắt ngực: Nhất là thể đau Prinzmétal, đau về đêm, gây phản xạ ngất vì đau quá mức hoặc loạn nhịp tim.
<b> Trong khi bị nhồi máu cơ tim: Thường ngất ở giai đoạn đầu của hoại tử, do phản xạ đau hoặc do rối loạn dẫn truyền nhĩ thất, suy sụp lưu lượng tim, phải cấp cứu, theo dõi và chuyển bệnh nhân vào viện.
d.            Tăng áp động mạch phổi
Bệnh nhân khó thở khi gắng sức cũng bị ngất, gây ra do tăng áp động mạch phổi nguyên phát, ít khi là thứ phát do bệnh tim hoặc suy hô hấp mạn tính.
e.            Ngất do thiếu oxy
Xảy ra ở bệnh tim bẩm sinh (FaIlot) còn ống động mạch, nghẽn mạch phổi nặng, thường xảy ra sau cơn khó thở nhanh, hạ áp động mạch.
B.            Nguồn gốc thần kinh:
-              Các cơn thoáng mất nhận biết đều phải nghĩ tới động kinh.
-              Các cơn động kinh không bắt buộc phải có mất nhận biết.
Tính chất chung của các cơn động kinh là:
•             Rất đột ngột, nhanh, không báo trước.
•             Nhận biết mất hoàn toàn, tuyệt đối và quên hết.
•             Sau đó hồi phục (trừ quá nặng)
•             Có thể tái phát.
1.            Cơn động kinh kiểu lớn: Có 4 giai đoạn:
a.            Giai đoạn co cứng: từ 10-20 giây, sau thời gian ngắn co là thời gian duỗi dài hơn, có thể kêu khóc, cắn vào lưỡi, dấu hiệu thực vật (giãn đồng tử, xanh, tím tái, ngừng thở, chảy nước dãi nhiều).
b.            Giai đoạn giật: 30 giây, có những cơn giật cơ và kết thúc bằng tiểu tiện dầm dề.
c.             Giai đoạn duỗi cơ: thở trở lại, biên độ lớn, nhanh, ngáy khò khò, ý thức còn lơ mơ, sùi bọt mép, các cơ doãi ra.
d.            Giai đoạn hồi phục: Cơ bắp trở lại bình thường; hết hôn mê và ý thức trở lại sau 10 phút.
Điều trị phải cho dùng ngay Diazepam (Valium) 10 mg hoặc Clonazépam (Rivotril) 1 mg.
2.            Cơn động kinh cục bộ vận động: Cơn xảy ra, nhưng ý thức vẫn còn, người bệnh có thể tự kể: sau những dấu hiệu tiền triệu là cơn kiểu Bravais - Jackson, bắt đầu từ vùng vận động của não sau lan ra 1/2 người tương ứng.
Chẩn đoán dựa vào điện não đồ, đo trong hoặc ngoài cơn, có nhiều sóng nhọn nhỏ.
3.            Động kinh tâm thần vận động: (còn gọi động kinh cục bộ thái dương): cơn biểu hiện ở thuỳ thái dương, triệu chứng cảm giác rất phong phú về nghe, ngửi, nhìn, tâm lý,
kết hợp với tình trạng u ám, giảm ý thức và quên hết. Điện não đồ sẽ thấy rối loạn nhịp thái dương.
4.            Cơn vắng ý thức: Đơn thuần là mất ý thức, rối loạn thực vật ít, kết hợp rối loạn vận động, dễ nhầm với động kinh do tính chất tái phát và cũng đột ngột như vậy.
Vắng ý thức + cơn co giật cơ + cơn bất động là bộ ba của cơn động kinh nhỏ, thường xuất hiện ở trẻ nhỏ, lớn lên thì hết. Mỗi cơn 5 - 15 giây, đứa bé xanh tái và ngừng vận động, không nói, rồi ngã vật ra do không nhận biết được. Cơn lành tính nhưng tái phát, có thể tới 10-50 lần/ngày. Điện não đồ biết được đặc điểm của bệnh.
5.            Do bệnh não, liên quan đến rối loạn tuần hoàn não. Đó là:
-              Thoáng khuất não ở người tăng huyết áp
-              Đột khuỵu do suy động mạch sống nền.
-              Hội chứng mất trộm máu dưới đòn (voleuse)
Chẩn đoán đôi khi nhầm với động kinh và, các bệnh tim mạch. Loạn nhịp có thể dẫn đến thoáng khuất não. Cơn đau thắt ngực dẫn đến ngất hoặc cơn Stokes - Adams có thể nhầm với suy động mạch sống nền.
c. Nguồn gốc phản xạ phó giao cảm:
Ngất phản xạ còn gọi là ngất vận mạch, ngất thần kinh, rất hay gặp, được gọi là nguyên phát. Nguyên nhân trước mắt là thiếu máu não cấp tính tạm thời, do suy giảm cơ chế điều hòa huyết áp trong hệ thống động mạch. Thường lành tính 
Có 2 đặc trưng:
-              Ý thức trở lại nhanh nếu nằm nghỉ.
-              Thường gặp ở người có địa tạng thần kinh tự động yếu.
1.            Lâm sàng
•             Thường xảy ra ở tư thế đứng.
•             Có một số dấu hiệu báo trước:
-              Cảm giác mệt mỏi,
-              Run chi dưới,
-              Như ve kêu trong tai,
-              Đầu nhẹ tênh, mặt xanh nhợt,
-              Đau thượng vị
Bệnh nhân có thể biết, tự phòng và không ngã.
•             Khi ngất: Ngã vật xuống, giảm ý thức, mặt xanh nhợt, mạch không bắt được.
•             Thời gian diễn ra ngắn, vài giây, tỉnh dậy nhanh, có thể quên các hiện tượng trước đó.
•             Một số ca ngất có thể tránh được do có báo trước, hoặc chỉ ngất xỉu qua loa
•             Một vài ca khác có thể co giật, phải phân biệt với động kinh.
•             Cuối cùng, ngất có thể gây ra bởi:
-              Ấn nhãn cầu
-              Xoa xoang cảnh
-              Nghiệm pháp Valsalva.
2.            Nguyên nhân
Ngất được  truyền theo một cung phản xạ mà sợi đi tới là dây tam thoa, thiệt hầu, phế vị, thần kinh trung gian Wrisberg với:
-              Trung tâm ở tổ chức lưới;
-              Các sợi đi ra là các sợi ức chế tim của dây X và các dây kích thích giao cảm co mạch.
Kết quả có 2 hiện tượng xảy ra:
•             Co mạch kèm tăng tiết mồ hôi, tăng huyết áp và các hiện tượng vận mạch.
•             Phó giao cảm làm chậm nhịp tim và ngất.
a.            Ngất do phản xạ: Thường ở người trẻ
•             Do xúc cảm, giận dữ, tang tóc;
•             Do quá nóng: phòng nóng, rạp chiếu bóng, sàn nhẩy, nơi dạ hội;
•             Do quá đau:
-              Các cơn đau bụng, gan, mật, thận ...
-              Các chấn thương, hoặc bị đánh đập
-              Đau thần kinh thiết hầu
•             Do bị kích thích khi điều trị
-              Tiêu hoá: Soi thực quản, dạ dày
-              Chọc màng phổi.
•             Do tăng kích thích xoang cảnh: Như ấn, xoa vào xoang cảnh cổ gây ngừng tim trong vài giây, tụt huyết áp cả tối đa và tối thiểu và ngất.
-              Thường gặp khi thắt cổ áo quá chặt,  quay đầu nhanh đột ngột, đụng mạnh vào cổ vùng xoang.
-              -Hoặc có các u vùng này, phồng động mạch, bệnh Takayashu (phụ nữ không mạch).
b.            Ngất do thiếu máu về tim phải:
<a> Tụt huyết áp thế đứng: Tuần hoàn tĩnh mạch trở về tim bị giảm do tụt huyết áp dưới 20 mmHg cả tâm trương và tâm thu lúc đang ngủ ngồi dậy đột ngột  Hạ huyết áp làm thiếu máu não, liệt cung phản xạ và tim không đập nhanh để phản ứng kịp.
Ngất này có đặc điểm:
-              Rất đột ngột, có thể có vài dấu hiệu báo trước.
-              Ngất, không co giật, không cắn vào lưỡi.
-              Khỏi nhanh khi nằm
<b> Đứng lâu ở một tư thế: ứ máu ngoại biên, giảm máu tĩnh mạch trở về và hạ áp thế đứng: thường xảy ra ở lính gác.
<c> Đi tiểu ban đêm: Do hạ áp ngoại biên dưới sự điều khiển của hệ thống co mạch ngoại biên, xảy ra khi đang hoặc sau khi đi tiểu ban đêm.
<d> Ngất do đột quỵ thanh quản: Xảy ra ở ngườị suy hô hấp, viêm phế quản mạn, tăng áp trong lồng ngực, mỗi khi có cơn ho mạnh làm máu tĩnh mạch trở về;tâm thất phải khó, tâm thất trái không phóng máu đủ, giảm lưu lượng não và ngất.
Ngất kiểu này ngắn, chỉ vài giây, nhưng toàn bộ và đột ngột, ngã, kết thúc nhanh và phục hồi hoàn toàn.
Tất cả các loại ngất do phản xạ đều có thể điều trị:
-              Hoặc bằng ức chế phó giao cảm loại atropin (0,5 mg X 3 lần/ngày) hoặc tinh chất belladone.
-              Hoặc bằng kích thích giao cảm: Ephédrin, Isuprel
D.            Nguồn gốc chuyển hóa và dùng thuốc:
1.            Hạ đường máu: Thường là chức năng hơn thực thể, xảy ra tương tự như mất nhận biết: Vã mồ hôi, giãn mạch, rối loạn tâm thần, u ám hoặc vật vã như cơn động kinh Nếu cơn kéo dài, sẽ hôn mê với Babinski dương tính cả hai bên và toàn thân co giật. Còn gọi là hạ đường huyết.
Sau khi chẩn đoán và đo mức đừờng nhanh ở nước tiểu, tiêm tĩnh mạch dung dịch ngọt ưu trương 30% hoặc tiêm bắp thịt 1 ống Glucagon, hoặc uống nước đường, bệnh sẽ giảm ngay. Việc xử lý này giúp khẳng định thêm trong chẩn  đoán.
2.            Hạ canxi máu: Cũng thường có ngất, co giật, canxi máu bình thường, Mg thiếu, cơn giật có thể thành mất nhận biết do tăng thông khí làm hạ C02 máu, co mạch não. Lâm sàng: Cơn ngất xỉu, chóng mặt, buồn nôn, cảm giác kiến bò ở miệng, co cứng và dấu hiệu Chvostek.
3.            Những cơn vận mạch (carcinoid, cai nghiện) rất ít.
4.            Ngất do thiếu kali.
5.            Các nguyên nhân nhiễm độc, như:
-              Ngộ độc CO (Phải đo CO máu)
-              Ngộ độc rượu,
-              Ngộ độc trichloréthyline
-              Ngộ độc héroin, ngộ độc thuốc phiện.
6.            Nguyên nhân do sử dụng thuốc: Thường gặp ở:
•             Thuốc hạ áp:
-              Thuốc hạ áp,
-              Lợi tiểu,
-              Liệt thần kinh,
-              Chống trầm uất,
-              IMAO,
-              LDOPA,
•             Thuốc quinidin, digitalin, chẹn bêta.
E. Do các bệnh thần kinh:
Rất dễ nhầm Với thể tạng co giật, liên quan với thể  suy nhượng hystérie, hoặc bệnh giả vờ. Chẩn đoán cần cẩn thận, vì bệnh thường thể hiện ở trước công chúng hoặc giữa đám đông.
-              Đặc biệt ở thể tạng: Xung đột gia đình, nghề nghiệp.
-              Dấu hiệu báo trước: Vật vã, lo âu, nghẹn trong họng.
-              Tính chất mất nhận biết: Không hoàn toàn, bị và mất từ từ. Ngoài ra còn có thể mất nhận biết ở những người mới bị chấn thương sọ não: Động kinh, ngất xỉu, xảy ra sau chấn thương. Nhưng may mắn, phần lớn các dạng ngất là do phản xạ hoặc do bệnh thần kinh (80%), thầy thuốc cần chú ý trước hết là chữa các rối loạn thần kinh thực vật, bằng thuốc an thần, sau đó sẽ tìm nguyên nhân. Đó là cách tiến hành chẩn đoán cơn ngất.


VI.          SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI NGUYÊN NHÂN THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


A.            Nguồn gốc tim mạch
Phải nghĩ đến trước hết, tuy rất ít:
•             Loạn nhịp tim:
-              Blốc nhĩ - thất hoàn toàn + + +
-              Các rối loạn khác,
•             Bệnh tim:
-              Hẹp van động mạch chủ,
-              Bệnh cơ tim trái,
-              Hẹp 2 lá,
-              u nhày nhĩ trái,
-              Van tim nhân tạo + tắc mạch,
-              Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim.
-              Tăng áp động mạch phổi,
-              Còn ống động mạch, nghẽn mạch phổi


Có nguy cơ: Chết đội ngột.

B.            Nguồn gốc thần kinh:
Nghĩ đến nguyên nhân thứ hai:
•             Động kinh:
-              Cơn lớn,
-              Cơn nhỏ thứ phát,
-              Động kinh cục bộ thái dương.
-              Thoáng khuất não.
•             Tai biến thiếu máu não tạm thời.
C. Nguồn gốc phản xạ phó giao cảm
Thường gặp hơn
•             Do phản xạ: - Cảm động - đau - nóng,
-              Tăng nhạy cảm xoang cảnh,
-              Thực hành điều trị bằng dụng cụ
•             Máu không về tim phải được:
-              Hạ huyết áp thế đứng.
-              Đứng thẳng quá lâu,
-              Đi tiểu đêm,
-              Cho máu nhiều,
-              Đột quỵ thanh quản.
D.            Nguồn gốc chuyển hoá
-              Hạ đường huyết,
-              Tạng co giật,
-              Nhiễm độc: CO, rượu, trichloréthylène
-              Thuốc hạ áp, quinidin, digitalin, ephédrin, morphin.
E.            Do các bệnh thần kinh
Rất nhiều, nhưng dè chừng trong chẩn đoán "quá dễ dàng" và "quá nhanh"
Luôn luôn chú ý loại trừ 3 nguyên nhân:

-              Hạ đường huyết,
-              CO,
-              Rượu.

 

Vll. XỬ TRÍ THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


Khi chứng kiến người ngất, phải:
-              Ngăn chặn nạn nhân khỏi bị ngã.
-              Đặt bệnh nhân nằm đầu thấp.
-              Giải phóng quần áo, nới rộng áo quần.
-              Lấy mạch, nghe tim phổi.
-              Lấy huyết áp, xem đồng tử,
Nếu có ngừng tim – tuần hoàn, phải cấp cứu ngay:
-              Đấm nhẹ vài cái vào xương ức.
-              Rồi xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
-              Thông khí bằng hà hơi thổi ngạt miệng - miệng
Tiêm thuốc hồi sức nhẹ: Heptamyl (1-3 ống), Effortil (1-3 ống), hoặc mạnh hơn: Isoprotérénol (Isuprel) tiêm bắp, và cho chuyển ngay đi bệnh viện chuyên khoa để hồi sức tiếp theo.
ít khi biết trong quá trình xảy ra, nên điều trị ngay tại chỗ hoặc tìm cách phòng ngất tái phát. Muốn chống tái phát phải:
•             Đặt máy tạo nhịp trường hợp có ngất tim, hoặc phẫu thuật khi có bệnh tim phải mổ.

Chỉ khi biết được nguyên nhân mới hướng dẫn được điều trị ngất và cũng phải định hướng cho bệnh nhân như vậy*

TÓM TẮT PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ THOÁNG MẤT NHẬN BIẾT HOẶC NGẤT


1.            Mọi loạn nhịp nhanh quá 200 lần/phút đều có thể ngất.
2.            Mọi cơn ngất đều phải nghĩ tới động kinh.
3.            Tránh ngã, nằm đầu thấp, nới lỏng quần áo.
4.            Lấy mạch, huyết áp, nghe tim.
5.            Xem đồng tử.
6.            Loại trừ cơn hạ đường huyết: Tiêm huyết thanh ngọt ưu trương 30% (20 ml vào tĩnh mạch); ngộ độc CO hoặc rượu.
7.            Sau cùng phải nghĩ đến bệnh thần kinh, vì đây là phổ biến.
8.            Điều trị cẩn thận tỷ mỷ trước khi cho vào viện.

Cấp cứu chẩn đoán tình trạng hôn mê
Cấp cứu cơn co giật
Cấp cứu do suy tế bào gan
Cấp cứu hen ác tính
Cấp cứu hoại thư sinh hơi
Cấp cứu hôn mê do hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường
cấp cứu hôn mê do tăng axit lactic ở bệnh nhân đái tháo đường
Cấp cứu hôn mê do tăng thẩm thấu ở bệnh nhân đái tháo đường
Cấp cứu khái huyết
Cấp cứu loạn nhịp chậm
Cấp cứu loạn nhịp nhanh
Cấp cứu nghẽn mạch phổi
Cấp cứu nhồi máu cơ tim
Cấp cứu nôn ra máu
Cấp cứu phù não
Cấp cứu do phù phổi cấp
Cấp cứu rối loạn kali máu
Cấp cứu suy hô hấp cấp
Cấp cứu suy thượng thận cấp
Cấp cứu tai biến mạch máu não
Cấp cứu tăng huyết áp
Cấp cứu thiếu máu các chi
Cấp cứu thoáng nhận biết hoặc ngất
Cấp cứu tiêu chảy cấp
Cấp cứu trạng thái vật vã
Cấp cứu trụy tim mạch và choáng
Cấp cứu bệnh nhân uốn ván
Cấp cứu hôn mê do toan máu ở người đái tháo đường
Cấp cứu người nghiện ma tuý
Chó cắn
Choáng phản vệ
Xử trí côn trùng đốt
Xử trí, điều trị bệnh nhân bị cóng lạnh
Cấp cứu xử trí bệnh nhân bị điện giật
Hạ thể nhiệt
Xử trí - Điều trị - Ngộ độc cấp
Ngộ độc rượu cấp
Nhiễm độc oxit cacbon (CO)
Rắn cắn
Say nóng
Thắt cổ
Xử trí trước một ban xuất huyết bột phát do não mô cầu

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com