CHĂM SÓC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

1. ĐẠI CƯƠNG CHĂM SÓC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

Ngủ đúng cách rất quan trọng để duy trì tình trạng sức khoẻ tốt cũng như dinh dưỡng hay tập thể thao đúng cách. Nếu không ngủ đúng cách và đủ thời lượng sẽ làm suy giảm khả năng tập trung, phán đoán trong các hoạt động hằng ngày, tăng tình trạng kích thích, cáu kỉnh.

Mỗi cá nhân cần một thời lượng ngủ khác nhau. Việc xác định và điều trị các rối loạn giấc ngủ cho bệnh nhân là nhiệm vụ quan trọng của người điều dưỡng. Để làm được điều này, người điều dưỡng phải nắm được bản chất, các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ, thói quen ngủ của bệnh nhân. Bệnh nhân bao giờ cũng cần thời gian ngủ và nghỉ ngơi nhiều hơn những người bình thường nhưng bệnh tật và môi trường bệnh viện, quá trình điều trị làm cho họ bị rối loạn và không có được sự nghỉ ngơi đầy đủ.

Ngủ được định nghĩa là sự thay đổi có định kỳ của trạng thái ý thức xảy ra trong những khoảng thời gian dài. Khi con người được ngủ đầy đủ và đúng cách họ sẽ cảm thấy sức khoẻ được phục hồi. Một vài chuyên gia về giấc ngủ tin rằng ngủ giúp phục hồi những năng lượng đã mất và cung cấp

thời gian để sửa chữa và phục hồi các hệ thống cơ thể cho giai đoạn tỉnh thức tiếp theo.

Quá trình ngủ, nghỉ bình thường của những người phải nhập viện hay tiếp nhận các chăm sóc y tế có thể dễ dàng bị ảnh hưởng bởi tình trạng bệnh tật và các hoạt động chăm sóc. Sự thích ứng của bệnh nhân đối với sự thay đổi này phụ thuộc vào tình trạng tâm sinh lý của bệnh nhân, môi trường xung quanh, tiếng ồn và công việc của những người chăm sóc. Người điều dưỡng luôn phải ý thức được nhu cầu nghỉ ngơi của bệnh nhân. Việc thiếu nghỉ ngơi trong một thời gian dài có thể gây bệnh hay làm cho tình hình bệnh tật của bệnh nhân xấu đi. Điều dưỡng phải giúp bệnh nhân hiểu được tầm quan trọng của nghỉ ngơi và cách thức tăng cường nghỉ ngơi ở nhà cũng như trong môi trường y tế.

2. SINH LÝ GIẤC NGỦ

2.1.    Nhịp sinh học

Nhịp sinh học là một phần đời sống hằng ngày của con người. Nhịp phổ biến nhất là 24 giờ hay còn gọi là nhịp ngày đêm. Tuy nhiên mọi người đều có những đồng hồ sinh học riêng phù hợp với sinh lý của giấc ngủ. Một vài người có thể cảm thấy buồn ngủ lúc 8 giờ tối khi những người khác đi ngủ vào nửa đêm hay sáng sớm. Những người khác nhau đều có những thời gian tối ưu khác nhau trong ngày.

Nhịp sinh học bao gồm cả vòng thức ngủ hằng ngày, bị ảnh hưởng bởi ánh sáng và nhiệt độ cũng như các yếu tố ngoại cảnh: các hoạt động xã hội và lao động hằng ngày. Khi sinh lý bình thường của giấc ngủ bị phá vỡ (do làm việc theo ca chẳng hạn) các chức năng sinh lý khác cũng thay đổi theo. Bệnh viện hoặc các chăm sóc y tế có thể gây ảnh hưởng không tốt đến nhịp sinh học bình thường của người bệnh.

2.2.    Cơ chế điều hoà giấc ngủ

Sự kiểm soát và điều hoà giấc ngủ do các cơ chế của hai bán cầu não thông qua việc kích thích hay ức chế hoạt động các trung tâm ngủ và thức.

Hệ thống mạng lưới hoạt hoá (RAS) nằm ở cuống não trên. Người ta tin rằng nó chứa những tế bào đặc biệt duy trì sự tỉnh táo và sự thức tỉnh. RAS nhận các kích thích thị giác, thính giác, đau và xúc giác. Các hoạt động của vỏ não (tình cảm hay suy nghĩ) cũng gây kích thích RAS. Sự thức tỉnh là kết quả của các neuron ở RAS làm giải phóng catecholamin như norepinephrine.

2.3.    Vai trò của giấc ngủ

Mục đích của giấc ngủ đến nay vẫn chưa rõ. Giấc ngủ được xem là góp phần vào việc phục hồi các chức năng tâm sinh lý của cơ thể (Oswald, 1984; Anch và cộng sự, 1988). Trong suốt quá trình ngủ, các chức năng sinh học của cơ thể ở mức thấp, điều này được cho là giúp bảo vệ hoạt động các cơ quan. Giấc ngủ cũng cần thiết để phục hồi các quá trình sinh học hằng ngày. Một giả thuyết khác cũng cho rằng ngủ giúp con người bảo tồn được năng lượng.

2.4.    Các giai đoạn của giấc ngủ

Điện não đồ đã cho thấy một bức tranh rất đẹp về những gì xảy ra trong lúc ngủ. Điện cực được đặt ở nhiều phần khác nhau của da đầu người ngủ. Năng lượng điện được truyền qua điện cực từ vỏ não đến các cây viết, từ đó ghi được sóng lên tờ giấy.

2.4.1. Ngủ không có chuyển động mắt nhanh (NREM: Nor Rapidỉy Eyes Movement)

Là kiểu ngủ có sóng não chậm, lúc này sóng não của người ngủ chậm hơn so với sóng alpha và sóng beta của người thức. Hầu hết ngủ trong đêm là ngủ kiểu NREM. Đây là ngủ sâu, thoải mái và một số chức năng sinh lý có giảm. Ngủ NREM được chia làm 4 giai đoạn:

- Giai đoạn I: ngủ rất nông. Trong giai đoạn này người nửa tỉnh nửa mê, mắt chuyển động từ bên

này sang bên khác, nhịp tim và nhịp thở giảm nhẹ. Người ngủ bị đánh thức dễ dàng, giai đoạn này chỉ kéo dài vài phút.

- Giai đoạn II là giai đoạn ngủ nông trong khi các quá trình khác của cơ thể tiếp tục giảm. Mắt đứng yên, nhịp tim và nhịp thở giảm nhẹ, nhiệt độ cơ thể giảm. Giai đoạn này kéo dài khoảng từ 10 -15 phút.

Bảng 16.1. Bảng tóm tắt các đặc điểm của ngủ NREM

Giai đoạnCác đặc điểm

I

-    Nửa tỉnh nửa mê (lơ mơ).

-    Nghỉ ngơi thoải mái.

-    Thường kéo dài khoảng vài phút.

-    Mắt chuyển động từ bên này sang bên khác.

II

-    Ngủ nông.

-    Dễ dàng bị đánh thức.

-    Chiếm khoảng 40 - 45% tổng thời gian ngủ.

III

-    Khó bị đánh thức hơn.

-    Ngủ trung bình sâu.

-    Các cơ thư giãn toàn bộ.

-    Huyết áp thấp hơn.

-    Nhiệt độ cơ thể thấp hơn.

IV

-    Giai đoạn ngủ sâu nhất.

-    Hiếm khi chuyển động cơ thể.

-    Các cơ giãn hoàn toàn.

-    Khó bị đánh thức.

-    Xảy ra khoảng 30 - 40 phút.

-    Giai đoạn III: Trong suốt giai đoạn này nhịp tim, nhịp thở và các quá trình khác của cơ thể tiếp tục giảm nhiều hơn bởi sự hoạt động trội hơn của hệ thần kinh phó giao cảm. Lúc này người ngủ trở nên khó bị đánh thức, không bị quấy rối bởi các kích thích cảm giác, hệ cơ xương thư giãn, các phản xạ kém và ngáy có thể xảy ra.

-    Giai đoạn IV: ngủ sâu. Nhịp tim và nhịp thở giảm xuống 20 đến 30% so với bình thường trong những giờ thức. Người ngủ rất thư giãn, hiếm khi cử động và khó đánh thức. Trong giai đoạn này mắt thường chuyển động và có thể có các giấc mơ.

2.4.2. Ngủ có chuyển động mắt nhanh (REM: Rapidly Eyes Movement)

Chiếm khoảng 25% toàn bộ giấc ngủ ở người lớn trẻ tuổi. Nó thường lặp lại sau khoảng 90 phút và kéo dài 5 - 30 phút. Thời gian ngủ REM thường tăng theo chu kỳ ngủ. Những giấc mơ xảy ra trong lúc này thường được bệnh nhân nhớ rõ.

Trong suốt quá trình này não bộ hoạt động cao và chuyển hoá cơ thể có thể tăng thêm 20 - 30%. Kiểu ngủ này được gọi là kiểu ngủ nghịch lý, nó nghịch lý ở chỗ: ngủ có thể xảy ra đồng thời với hoạt động cao của não.

Khi con người quá mệt thì thời gian ngủ REM này rất ngắn, có thể không có. Khi được nghỉ ngơi nhiều hơn vào buổi đêm thì thời gian ngủ REM tăng.

Bảng 16.2. Bảng tóm tắt các đặc điểm của ngủ REM

Các đặc điểm

Ngủ REM

-    Các giấc mơ sinh động hay xảy ra và được nhớ rất kỹ.

-    Khó bị đánh thức.

-    Trương lực cơ giảm nhiều.

-    Tăng tiết dịch dạ dày.

-    Xảy ra một số chuyển động cơ không đều, đặc biệt là chuyển động mắt nhanh.

-    Chuyển hoá não tăng.

-    Hàm dưới thư giãn.

-    Thời gian của ngủ REM tăng theo mỗi chu kỳ và thường kéo dài trung bình khoảng 20 phút.

2.5. Chu kỳ giấc ngủ

Trong một chu kỳ ngủ, con người trải qua 4 giai đoạn của ngủ NREM, thường kéo dài khoảng 1 giờ ở người lớn. Người ngủ trải qua từ giai đoạn I đến giai đoạn II, III và IV kéo dài khoảng 20 - 30 phút. Giai đoạn IV kéo dài khoảng 30 phút. Các giai đoạn này được tiếp tục bởi các giai đoạn III đến giai đoạn II, theo thứ tự như vậy. Sau đó kết thúc với khoảng thời gian của giai đoạn ngủ REM kéo dài khoảng 10 phút. Sự liên tục này đã hoàn thành chu kỳ ngủ thứ nhất. Thường thì mỗi người ngủ trải qua 4 - 6 chu kỳ trong 7 - 8 giờ. Số chu kỳ ngủ tuỳ thuộc vào tổng số thời gian ngủ. Mỗi chu kỳ kéo dài khoảng 70 phút. Người ngủ bị đánh thức ở bất kỳ giai đoạn nào cũng đều phải bắt đầu lại giai đoạn I của NREM. Khi con người được nghỉ ngơi thoải mái thì chu kỳ này kéo dài.

Sự kéo dài của các giai đoạn NREM và REM là khác nhau trong suốt thời gian ngủ 8 giờ. Với một chu kỳ ngủ thành công thì giai đoạn III và giai đoạn IV ngắn lại, khoảng thời gian ngủ REM kéo dài và các giấc mơ cũng có xu hướng kéo dài hơn. Khoảng thời gian REM có thê kéo dài lên đến 60 phút trong suốt chu kỳ ngủ cuối cùng. Nếu người ngủ rất mệt, chu kỳ ngủ REM thường ngắn, ví dụ chỉ 5 phút thay vì 20 phút.

Hình 16.1. Chu kỳ giấc ngủ ở nguời lớn

(4 - 6 chu kỳ trong một giấc ngủ)


CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẤC NGỦ

3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIẤC NGỦ

3.1.    Tuổi

Là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến giấc ngủ và sự nghỉ ngơi cần thiết của một người.

3.2.    Môi trường

Môi trường có thể cản trở giấc ngủ. Tiếng ồn làm không ngủ được. Sự vắng mặt các kích thích hằng ngày hay sự hiện diện của các kích thích không quen thuộc có thể làm một người không ngủ được.

3.3.    Mệt mỏi

Người ta cho rằng một người mệt mỏi vừa phải thì thường ngủ ngon. Mệt mỏi cũng có thể ảnh hưởng đến kiểu ngủ. Một người càng mệt thì thời gian ngủ REM đầu tiên càng ngắn. Khi một người được nghỉ ngơi thì thời gian ngủ REM càng trở nên dài hơn.

3.4.    Lối sống

Một người làm việc ca đêm hoặc thay đổi ca thường xuyên thì phải sắp xếp các hoạt động để có thể ngủ đúng giờ.

Việc tập thể dục nhẹ nhàng trước lúc ngủ giúp dễ ngủ nhưng tập quá mức có thể làm chậm hay ức chế quá trình ngủ. Khả năng thư giãn trước lúc ngủ là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến khả năng rơi vào giấc ngủ.

3.5.    Các căng thẳng về tâm thần

Sự lo lắng và trầm cảm làm quấy rối giấc ngủ. Một người mắc phải các vấn đề cá nhân mà không giải quyết được thì không thể thư giãn được để có thể ngủ. Sự lo lắng làm tăng norepinephrine trong huyết tương thông qua sự kích thích của hệ thần kinh giao cảm. Sự thay đổi giao cảm này đã làm ảnh hưởng đến giai đoạn ngủ IV NREM và ngủ REM.

3.6.    Rượu và các chất kích thích

Uống nhiều rượu ảnh hưởng đến ngủ REM mặc dù nó có thể giúp rơi vào giấc ngủ rất nhanh. Trong khi tạo nên sự mất ngủ REM, bệnh nhân thường trải qua các cơn ác mộng. Bệnh nhân nghiện rượu thường ngủ không ngon và hay kích thích.

Các thức uống có cà phê hoạt động như một chất kích thích hệ thần kinh trung ương vì vậy làm quấy rối giấc ngủ.

3.7.    Chế độ ăn

Việc tăng cân và giảm cân được cho rằng có ảnh hưởng đến giấc ngủ. Việc giảm cân dẫn đến việc giảm tổng thời gian ngủ cũng như không ngủ được và thức dậy sớm. Tăng cân thì ngược lại, tăng cân làm ngủ nhiều, ngủ ngon và thức dậy muộn.

Amino acid L - tryptophan được cho là ảnh hưởng đến giấc ngủ. Những thức ăn có L -tryptophan như sữa, thịt bò, phomát trắng, cá ngừ có thể xúc tiến tạo ra giấc ngủ, điều này giải thích rằng tại sao sữa nóng làm dễ ngủ.

3.8.    Hút thuốc

Nicotin có tác dụng kích thích cơ thể. Người hút thuốc thường khó khăn lúc bắt đầu ngủ hơn những người không hút thuốc. Người hút thuốc thường bị đánh thức rất dễ dàng và họ hay phàn nàn rằng họ ngủ rất nông. Bằng cách không hút thuốc sau buổi ăn tối sẽ giúp ngủ tốt hơn. Có nhiều người nói rằng họ ngủ tốt hơn sau khi bỏ thuốc.

3.9.    Động lực

Một người mong muốn thức để làm việc gì đó thì thường vượt qua được mệt mỏi. Ví dụ một người mệt mỏi nhưng cũng có thể tỉnh táo hay thức được để chờ đợi một buổi hoà nhạc hay. Khi một người chán hay không có động lực thì ngủ rất mau.

3.10.    Ốm đau

Người ốm đau cần ngủ nhiều hơn bình thường, nhịp ngủ và thức bình thường sẽ bị rối loạn. Đau cũng có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ hoặc mạnh hơn là ngăn chặn việc ngủ hay là đánh thức người ngủ.

-    Tình trạng hô hấp cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ. Khó thở làm khó ngủ, giảm O2 và tăng CO2 làm quấy rối giấc ngủ bình thường.

-    Những người bị viêm loét dạ dày tá tràng cũng không thể ngủ do đau, do tăng tiết dịch dạ dày xảy ra trong ngủ REM.

-    Một số rối loạn nội tiết ảnh hưởng đến giấc ngủ. Cường giáp làm kéo dài thời gian rơi vào giấc ngủ. Suy giáp thì ngược lại, giai đoạn IV của NREM bị giảm.

-    Nhiệt độ cơ thể tăng gây ra sự giảm giai đoạn III và IV của NREM.

-    Đi tiểu nhiều vào ban đêm cũng cản trở việc ngủ, nhiều người rất khó mới có thể ngủ lại.

3.11.    Thuốc

Một số thuốc ảnh hưởng đến giấc ngủ. Thuốc ngủ có thể ảnh hưởng đến giai đoạn III và IV NREM và cản trở REM. Các thuốc chẹn beta gây mất ngủ và ác mộng.

Narcotic và morphin cản trở giấc ngủ và gây thức giấc thường xuyên, tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Các thuốc trầm cảm cản trở ngủ REM. Một người không dùng bất cứ một trong những loại thuốc này sẽ có nhiều thời gian ngủ REM hơn.

4. CÁC RỐI LOẠN VỀ GIẤC NGỦ THƯỜNG GẶP

Các rối loạn về giấc ngủ được chia làm hai loại là nguyên phát và thứ phát.

-    Rối loạn giấc ngủ nguyên phát là các rối loạn mà ở đó rối loạn về giấc ngủ là rối loạn chính. Rối loạn nguyên phát gồm: chứng mất ngủ, ngủ nhiều, cơn ngủ kịch phát,...

-    Rối loạn thứ phát là những rối loạn về giấc ngủ gây ra bởi các rối loạn khác như: rối loạn chức năng tuyến giáp, trầm cảm hay chứng nghiện rượu.

4.1. Chứng mất ngủ

Là rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất, nghĩa là không có khả năng ngủ đủ số lượng và chất lượng. Những người mất ngủ không có cảm giác thoải mái khi thức dậy. Có 3 loại mất ngủ:

-    Khó khăn khi bắt đầu ngủ (mất ngủ giai đoạn đầu).

-    Khó khăn lúc đang ngủ vì phải thức dậy nhiều lần mà không ngủ lại được.

-    Thức dậy sớm vào buổi sáng (mất ngủ giai đoạn cuối).

Tuy nhiên có một số người cho rằng họ bị mất ngủ nhưng thật ra là họ ngủ nhiều hơn và dễ rơi vào giấc ngủ hơn họ nói. Loại mất ngủ này là mất ngủ chủ quan hay mất ngủ tưởng tượng. Việc điều trị chứng mất ngủ yêu cầu bệnh nhân phải thay đổi các kiểu hành vi mới có thể tạo ra giấc ngủ.

Mất ngủ thường do khó chịu về mặt thể chất nhưng cũng thường là kết quả của kích thích thần kinh quá mức gây nên lo lắng. Người ta thường trở nên lo lắng khi họ không thể ngủ được. Những người có thói quen uống thuốc hay uống rượu với số lượng lớn hầu như có chứng mất ngủ.

Lợi ích của thuốc ngủ đang còn là một câu hỏi. Những thuốc như thế này không giải quyết được nguyên nhân của vấn đề và sử dụng lâu dài dẫn đến phụ thuộc thuốc.

4.2.    Chứng ngủ nhiều

Là ngủ quá mức, đặc biệt là ngủ ngày. Những người có ưu phiền thường ngủ cho đến trưa và ngủ nhiều lần trong ngày. Chứng ngủ nhiều có thể do bệnh như: tổn thương hệ thần kinh trung ương, các bệnh gan, thận hay các rối loạn chuyển hoá (nhiễm toan đái tháo đường, suy giáp).

Trong một số trường hợp một người dùng chứng ngủ nhiều như là một biện pháp để tránh đối mặt với các trách nhiệm của mình.

4.3.    Cơn ngủ kịch phát

Từ Hylạp "narco" có nghĩa là sự trơ lỳ và "lepsis" có nghĩa là sự đột ngột, bất ngờ. Narcolepsis là sự ngủ xảy ra đột ngột vào ban ngày vì vậy nó được xem là sự tấn công của giấc ngủ. Nguyên nhân của nó vẫn chưa được biết. Mặc dù người có chứng mất ngủ kịch phát ngủ tốt vào ban đêm nhưng họ vẫn ngủ gục nhiều vào ban ngày ngay cả khi đang nói chuyện với người khác hay lúc đang lái xe. Cơn ngủ kịch phát thường được kiểm soát bởi các chất kích thích của hệ thần kinh trung ương như là pemoline hay deanol.

4.4.    Ngưng thở trong lúc ngủ

Là ngừng thở một khoảng thời gian trong lúc đang ngủ. Rối loạn này cần phải được đánh giá bởi các chuyên gia về giấc ngủ nhưng có thể nghi ngờ trong trường hợp một người lớn, hay thức dậy đi tiểu đêm, ngủ ngày nhiều, mất ngủ, đau đầu vào buổi sáng, giảm trí thông minh, hay cáu gắt hoặc có các thay đổi nhân cách, sinh lý như tăng huyết áp và thay đổi nhịp tim (Weaver và Millman 1986).

Thường hay gặp nhất là ở những người đàn ông trên 50 tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Khoảng thời gian ngưng thở khoảng 10 giây đến 2 phút. Tần suất khoảng 50 - 600 lần một đêm. Ngưng thở nhiều lần làm bệnh nhân kiệt quệ và ngủ nhiều hơn vào buổi ngày.

Có 3 loại ngưng thở vào buổi đêm: ngưng thở do tắc nghẽn, ngưng thở do trung ương và hỗn hợp.

-    Ngưng thở do tắc nghẽn xảy ra do cấu trúc của họng và miệng làm nghẽn dòng khí đi vào. Người ngủ cố gắng để thở, nghĩa là cơ ngực và cơ bụng di động. Sự di động của cơ hoành ngày càng mạnh cho đến khi tắc nghẽn chấm dứt. Nguyên nhân thường là sưng amydal, polyp mũi, vẹo vách ngăn mũi.

-    Ngưng thở trung ương thường được cho là do khiếm khuyết ở trung tâm hô hấp ở não. Tất cả các hoạt động liên quan đến việc thở như chuyển động của ngực và dòng khí bị ngưng. Thường gặp ở bệnh nhân có tổn thương cuống não.

-    Ngưng thở hỗn hợp là sự kết hợp của cả hai loại trên.

Ngưng thở thường hay bắt đầu với ngáy, sau đó là thở phì. Đến giai đoạn cuối của ngưng thở, nồng độ CO2 tăng trong máu làm bệnh nhân thức dậy. Điều trị có thể là trực tiếp lên nguyên nhân như: Amydal sưng thì có thể cắt đi. Sử dụng áp lực dương đường thở liên tục ở mũi (CPAP: continuous positive airway pressure) là có hiệu quả.

Ngưng thở lâu ngày có thể làm tăng huyết áp và ngừng tim. Theo thời gian, những lần ngưng thở

có thê làm rối loạn nhịp tim, tăng áp phổi và tiếp theo là suy tim trái.

4.5. Các hành vi trong giấc ngủ

-    Mộng du: đi trong lúc ngủ. Xảy ra suốt giai đoạn III và IV của ngủ NREM. Thường xảy ra 1 - 2 giờ sau lúc ngủ. Người này có xu hướng không đê ý đến giấc ngủ và cần phải được bảo vệ khỏi các tổn thương.

-    Ngủ nói: Việc nói trong lúc ngủ thường xảy ra trong suốt NREM trước lúc ngủ REM. Thường thì không biết được nếu như không ảnh hưởng đến người khác.

-    Chứng đái dầm vào ban đêm: Đái dầm trong lúc ngủ thường xảy ra ở trẻ trước 3 tuổi. Thường hay gặp ở trẻ nam hơn nữ. Xảy ra vào khoảng 1 - 2 giờ sau khi đi ngủ, thường ở giai đoạn III và IV của NREM.

-    Chứng cương cứng dương vật khi ngủ: Sự cương cứng dương vật và xuất tinh xảy ra trong suốt giai đoạn ngủ REM. Chúng bắt đầu từ thanh, thiếu niên và thường không ảnh hưởng đến việc ngủ.

-    Chứng nghiến răng: Thường xảy ra trong suốt giai đoạn II của NREM.

5. QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG

5.1. Nhận định

Sự đánh giá liên quan đến giấc ngủ bao gồm những vấn đề sau:

5.1.1. Bệnh sử về giấc ngủ

Mục đích là biết được các nhu cầu và sở thích của bệnh nhân đê có một kế hoạch chăm sóc tốt. Một bệnh sử tổng quát bao gồm:

-    Kiêu ngủ thường ngày của bệnh nhân, thời gian ngủ và thức, số giờ ngủ không bị quấy rối, chất lượng hay sự thoả mãn với giấc ngủ, thời gian và sự kéo dài của giấc ngủ.

-    Các hành động thường xuyên hằng ngày trước lúc đi ngủ đê có thê giúp dễ ngủ: uống nước nóng, đọc sách hay các phương pháp thư giãn khác, các dụng cụ trợ giúp hay các vị trí nằm đặc biệt.

-    Sử dụng thuốc ngủ: Các chất kích thích hay các steroids nếu uống gần giờ ngủ có thê ảnh hưởng đến giấc ngủ. Thuốc gây ngủ hay thuốc chống trầm cảm có thê gây ngủ ngày nhiều.

-    Môi trường ngủ: phòng tối, nhiệt độ ấm hay mát, mức độ ồn ào.

-    Các thay đổi về kiêu ngủ gần đây hay các khó khăn trong việc ngủ.

Nếu bệnh nhân xác định được những thay đổi trong kiêu ngủ gần đây hay khó khăn trong việc ngủ thì cần một bệnh sử chi tiết hơn. Bệnh sử này phải tìm hiêu về bản chất của vấn đề và nguyên nhân của nó, bắt đầu xuất hiện khi nào, mức độ nó ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày, bệnh nhân đã làm gì đê đương đầu với các vấn đề đó và những phương pháp này có hiệu quả hay không.

Những câu hỏi mà điều dưỡng có thê hỏi bệnh nhân có sự rối loạn về giấc ngủ:

-    Bạn hãy mô tả về các rối loạn giấc ngủ của mình. Những thay đổi gì đã xảy ra trong kiêu ngủ thường ngày của bạn? Điều này đã xảy ra thường xuyên như thế nào?

-    Bạn có khó khăn lúc bắt đầu ngủ hay không? Nếu có thì bao nhiêu lần?

-    Bạn có thức dậy sớm hơn bạn muốn vào buổi sáng hay không?

-    Bạn có thường xuyên thức dậy vào buổi đêm hay không? Bao nhiêu lần?

-    Bạn có ngủ nhiều hơn bình thường không? Nếu có thì như thế nào?

-    Bạn cảm thấy thế nào khi thức dậy vào buổi sáng?

-    Bạn có những lần nào quá mệt mỏi không? Nếu có thì lúc nào?

-    Bạn có bao giờ đột nhiên buồn ngủ khi đang hoạt động ban ngày không? Nếu có thì có sự yếu cơ hay liệt cơ nào hay không?

-    Có ai bảo là bạn ngáy, đi, nói chuyện hay ngưng thở một lúc trong khi ngủ chưa?

-    Bạn đã làm gì để giải quyết vấn đề này chưa? Nếu có, nó có giúp ích gì không?

5.1.2.    Nhật ký về giấc ngủ

Nhật ký do bệnh nhân thực hiện, gồm các thông tin sau đây:

-    Tổng số giờ ngủ trong một ngày.

-    Các hoạt động thực hiện 2 đến 3 giờ trước lúc đi ngủ.

-    Các thói quen lúc đi ngủ như: ăn, uống hay uống thuốc.

-    Thời gian: lên giường ngủ là ngủ ngay, cố gắng ngủ,...

-    Các lo lắng nào mà bệnh nhân cho là có ảnh hưởng đến giấc ngủ.

5.1.3.    Thăm khám thực thể

Việc quan sát bệnh nhân bao gồm sự quan sát về biểu hiện ở nét mặt, cách cư xử và sinh lực.

Quầng thâm xung quanh mắt, mí mắt sưng, kết mạc đỏ, diễn tả của nét mặt bị hạn chế, mắt lờ đờ biểu hiện sự thiếu ngủ.

-    Các hành vi như thiếu nghỉ ngơi, không tập trung, phát âm chậm, run tay, nhầm lẫn, cáu gắt, dáng vẻ nặng nề, ngáp,... gợi ý thức rối loạn về giấc ngủ.

-    Thiếu sức sống được phát hiện qua việc quan sát xem bệnh nhân có mệt mỏi, lờ đờ, yếu hay không,...

-    Ngoài ra, điều dưỡng đánh giá xem bệnh nhân có mũi lệch, béo phì, cổ có phì đại không. Những kết quả tìm thấy này có thể liên quan với ngưng thở trong lúc ngủ do tắc nghẽn và hay là ngáy.

5.1.4.    Các xét nghiệm chẩn đoán

Ngủ được đo một cách khách quan ở phòng xét nghiệm về rối loạn giấc ngủ nhờ vào điện não đồ (EEG), điện mắt (EOG), điện cơ (EMG) được ghi lại đồng thời. Sự ghi lại đồng thời này đã chia giấc ngủ thành REM và NREM. Các điện cực được đặt ở giữa da đầu để ghi sóng não, bên ngoài hai góc mắt để ghi chuyển động mắt và lên cơ má để ghi điện cơ. Điều dưỡng phải theo dõi: hô hấp gắng sức, ECG, chuyển động của chân và độ bão hoà oxy. Độ bão hoà oxy và ECG được đánh giá là rất quan trọng nếu nghi ngờ có ngưng thở trong lúc ngủ.

5.2. Chẩn đoán điều dưỡng

Sau khi điều dưỡng có các dữ liệu thì tập hợp lại để có các chẩn đoán chính xác và có thể đưa ra được nguyên nhân. Rối loạn về mô hình giấc ngủ có thể được nói như là nguyên nhân của các chẩn đoán khác, trong trường hợp này các can thiệp của điều dưỡng hướng đến các rối loạn đó. Dưới đây là những chẩn đoán điều dưỡng về rối loạn giấc ngủ có thể có:

-    Khó khăn trong việc bắt đầu ngủ do tiếng ồn của môi trường xung quanh.

-    Hay thức giấc vào ban đêm do lo lắng công việc.

-    Nguy cơ tổn thương do đi trong lúc ngủ.

-    Rối loạn về lòng tự trọng do tiểu dầm trên giường.

-    Rối loạn quá trình trao đổi khí trong lúc ngủ do sự cung cấp oxy bị thay đổi.

-    Kiểu thở không hiệu quả do tắc nghẽn khí phế quản.

5.3.    Lập kế hoạch

Mục tiêu chính đối với các bệnh nhân có rối loạn giấc ngủ là duy trì hay phát triển một mô hình giấc ngủ mà có thể cung cấp đầy đủ sức sống cho các hoạt động hằng ngày. Điều dưỡng lập kế hoạch can thiệp dựa trên nguyên nhân của các chẩn đoán. Những can thiệp này bao gồm:

-    Làm giảm các quấy rối của môi trường xung quanh.

-    Xúc tiến các hoạt động để giúp ngủ tốt.

-    Cung cấp các phương pháp giúp ngủ thoải mái cho bệnh nhân.

-    Đưa ra lịch chăm sóc để cung cấp các khoảng thời gian ngủ không bị ngắt quãng.

-    Hướng dẫn bệnh nhân các cách làm giảm căng thẳng, các kỹ thuật thư giãn, cách phát triển các thói quen ngủ tốt.

Nếu rối loạn giấc ngủ là nguyên nhân của các chẩn đoán điều dưỡng, điều dưỡng lập kế hoạch các chiến lược đặc biệt để làm giảm sự mất ngủ và giải quyết các vấn đề làm cản trở giấc ngủ.

5.4.    Thực hiện

Đối với những bệnh nhân nằm viện, các vấn đề giấc ngủ thường liên quan với môi trường bệnh viện hay bệnh tật của họ. Việc giúp đỡ bệnh nhân ngủ trong những trường hợp như vậy có thể là một thử thách đối với điều dưỡng.

5.4.1. Tạo ra môi trường nghỉ ngơi thoải mái

Để đạt được điều này thì điều dưỡng phải làm giảm sự ảnh hưởng của môi trường, giảm các yếu tố làm ngắt quãng giấc ngủ, đảm bảo môi trường ngủ an toàn, để nhiệt độ phòng thích hợp với bệnh nhân. Các yếu tố của môi trường như điện sáng, tiếng ồn là những quấy rối đặc biệt đối với những bệnh nhân nằm viện.

-    Có 3 loại tiếng ồn ở bệnh viện là:

+ Tiếng ồn của môi trường.

+ Tiếng ồn từ các thủ thuật.

+ Tiếng ồn của các nhân viên y tế.

-    Một số các can thiệp làm giảm yếu tố môi trường, đặc biệt là tiếng ồn bao gồm:

+ Đóng rèm cửa sổ nếu ánh sáng chiếu vào.

+ Đóng rèm ngăn cách giữa các bệnh nhân nếu trong phòng có hai hay nhiều bệnh nhân.

+ Giảm hay tắt các đèn ở phía trên đầu bệnh nhân, chỉ để đèn bên cạnh giường.

+ Tắt tivi hay radio sớm.

+ Làm giảm tiếng chuông điện thoại.

+ Không tiếp tục sử dụng các hệ thống thông báo (như loa) sau một giờ nhất định.

+ Các nhân viên cần nói nhỏ, khi các điều dưỡng thảo luận, báo cáo chuyển ca thì cần phải cách xa phòng của bệnh nhân.

+ Bảo đảm rằng tất cả các bánh xe lăn đều phải được bôi trơn.

+ Mang giày đế cao su.

+ Chỉ thực hiện các nhiệm vụ rất cần thiết khi bệnh nhân đang ngủ.

-    Môi trường phải đảm bảo an toàn để bệnh nhân có thể thư giãn. Những bệnh nhân không quen

nằm trên giường nhỏ ở bệnh viện thì phải có các chắn giường đê bảo đảm an toàn. Các phương pháp bảo đảm an toàn cho giấc ngủ:

+ Sử dụng đèn ngủ.

+ Đặt giường ở vị trí thấp.

+ Đê song chắn giường nếu cần thiết.

+ Đặt chuông gọi trong tầm với.

+ Hướng dẫn bệnh nhân cách đê nhận được sự giúp đỡ.

+ Hướng dẫn bệnh nhân cách có thê đi được trong điều kiện đang được gắn các dây truyền tĩnh mạch hay các ống dẫn. Cho bệnh nhân các ống đủ dài đê có thê di chuyên.

5.4.2.    Tạo ra các thói quen trước lúc đi ngủ

Hầu hết mọi người đều có các thói quen đê tạo ra sự thoải mái và thư giãn trước lúc đi ngủ. Việc làm thay đổi hay huỷ bỏ các thói quen này làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của bệnh nhân.

Ở người lớn những thói quen này thường là: nghe nhạc, tắm, cầu nguyện, đi bộ ban đêm,... Ở trẻ em thường là: nghe kê chuyện, nắm những vật mà trẻ thích.

Trước lúc đi ngủ hầu hết mọi người thường làm vệ sinh thân thê như tắm, rửa mặt, rửa tay, đánh răng, đi tiêu.

Ngoài ra, các bữa ăn nhẹ mà nhiều người ăn trước giờ đi ngủ đê làm giảm đói có thê làm ảnh hưởng đến giấc ngủ. Một số thức uống có protein cao và các bữa ăn nhẹ như uống sữa, phomát, đậu,... có khả năng tạo ra giấc ngủ vì chúng chứa acid L- tryptophan, một chất tạo ra giấc ngủ. Việc ăn nhiều trước lúc ngủ nên tránh. Bên cạnh đó còn phải tránh các bài tập thê dục quá sức hay kích thích tâm thần quá mức, ví dụ như công việc ở cơ quan hay là giải quyết các công việc gia đình trước giờ đi ngủ. Những hoạt động như vậy làm kéo dài thời gian rơi vào giấc ngủ. Các bài tập thê dục nhẹ nhàng trước lúc ngủ cũng xúc tiến tạo ra giấc ngủ tốt vì chúng đóng góp vào sự mệt sinh lý.

Thiết lập một thời gian cố định cho việc đi ngủ và thức dậy cùng một giờ trong buổi sáng đê có được mô hình giấc ngủ lành mạnh.

5.4.3.    Tạo ra sự thoải mái và thư giãn

Các phương pháp giúp làm thoải mái là cần thiết đê bệnh nhân rơi vào giấc ngủ và ngủ tốt, đặc biệt trong trường hợp bệnh tật quấy rối giấc ngủ của bệnh nhân.

Một thái độ quan tâm chăm sóc cùng với các can thiệp dưới đây đã tạo ra sự thoải mái có ý nghĩa đối với giấc ngủ của bệnh nhân.

-    Mặc quần áo ngủ thoải mái.

-    Giúp bệnh nhân vệ sinh thân thê hằng ngày.

-    Bảo đảm khăn trải giường mềm, sạch và khô.

-    Giúp hay yêu cầu bệnh nhân đi tiêu trước khi đi ngủ.

-    Đặt những bệnh nhân bị hạn chế vận động ở tư thế thích hợp đê giúp giãn cơ và bảo vệ các vùng bị đè ép.

-    Dự kiến thời gian dùng thuốc, đặc biệt là các thuốc lợi tiêu đê tránh thức dậy đi tiêu vào ban đêm.

-    Đối với những bệnh nhân đau uống thuốc giảm đau khoảng 30 phút trước lúc ngủ, hay áp nóng, lạnh, ép bông hay nẹp vùng bị đau.

-    Đối với các bệnh nhân khó thở: cho bệnh nhân các thuốc được kê đơn như thuốc giãn phế quản trước lúc đi ngủ và đặt tư thế nằm thích hợp.

-    Lắng nghe các vấn đề bệnh nhân quan tâm và giải quyết tốt các vấn đề đó.

Mọi lứa tuổi, đặc biệt là người già không thể ngủ tốt nếu họ cảm thấy lạnh vì các thay đổi về tuần hoàn, chuyển hoá, khả năng sinh nhiệt và dự trữ năng lượng của cơ thể.

-    Trước lúc bệnh nhân đi ngủ phải làm giường nóng bằng các chai nước nóng hay làm ấm chăn.

-    Sử dụng khăn trải giường có 100% cotton để làm ấm.

-    Khuyến khích bệnh nhân mang quần áo ngủ vải mềm, mang tất ấm, mang mũ len nếu tóc ít, mang áo len tay dài, có chăn phủ giường hay chăn ấm.

-    Các căng thẳng về cảm xúc làm ảnh hưởng khả năng thư giãn, nghỉ ngơi và ngủ của bệnh nhân.

5.4.4.    Cho bệnh nhân uống thuốc ngủ

Thuốc ngủ thường được kê đơn cho bệnh nhân để tạo ra giấc ngủ, các thuốc chống lo âu hay các thuốc an thần làm giảm lo lắng và căng thẳng. Chỉ sau khoảng vài tuần dùng các sản phẩm này bệnh nhân sẽ phải tăng liều hay dùng thuốc cùng với rượu.

Điều dưỡng cần hướng dẫn bệnh nhân về những tác động hay tác dụng phụ của thuốc và cảnh cáo bệnh nhân về việc dùng thuốc với rượu. Không nên sử dụng các thuốc ngủ không kê đơn. Khi cho bệnh nhân dùng thuốc, điều dưỡng phải có kiến thức về tác dụng phụ của thuốc và chỉ cho bệnh nhân dùng khi có chỉ định. Những bệnh nhân lớn tuổi dễ bị các tác dụng phụ của thuốc vì sự thay đổi về hấp thu dạ dày ruột, khả năng chuyển hoá và bài tiết giảm, một số bệnh nhân có tăng mỡ.

Các can thiệp không dùng thuốc làm tăng và duy trì giấc ngủ là những can thiệp nên sử dụng đầu tiên.

5.4.5.    Giáo dục bệnh nhân

Hướng dẫn các thói quen ngủ tốt, các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ và cách sử dụng thuốc ngủ an toàn. Một số các cách giúp ngủ và nghỉ tốt hơn:

-    Thiết lập thời gian đi ngủ và thời gian ngủ dậy đúng giờ để tránh rối loạn nhịp sinh học của cơ

thể.

-    Sử dụng giường chủ yếu cho việc ngủ để có thể liên tưởng đến việc ngủ. Không nên dùng giường để học, xem tivi, ăn uống.

-    Tập các bài tập thể dục cuối ngày để làm giảm các căng thẳng nhưng phải tránh các hoạt động kích thích trước lúc ngủ.

-    Phải có thời gian nghỉ ngơi hằng ngày.

-    Tránh rượu và thức ăn, thức uống có chứa cà phê buổi chiều và buổi đêm.

-    Thiết lập các thói quen trước lúc ngủ như là tập thể dục hay là ăn nhẹ.

-    Chỉ lên giường ngủ khi nào thấy buồn ngủ.

-    Nếu có sử dụng thuốc ngủ thì dùng ngắt quãng (ví dụ 3 ngày một lần).

-    Khi không thể ngủ được thì tiếp tục các hoạt động thư giãn cho đến lúc ngủ được.

5.5. Lượng giá

Để lượng giá xem có đạt được kết quả hay không, điều dưỡng có thể quan sát các thời gian kéo dài giấc ngủ của bệnh nhân, các dấu hiệu cản trở giấc ngủ REM và NREM, hỏi xem bệnh nhân cảm thấy thế nào khi thức dậy, hỏi xem hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Nếu kết quả không đạt được thì điều dưỡng nên tìm hiểu nguyên nhân, đặt ra các câu hỏi:

-    Các yếu tố nguyên nhân có được xác định đúng không?

-    Có phải tình trạng thể trạng của bệnh nhân hay liệu pháp thuốc đã thay đổi không?

-    Bệnh nhân đã tuân theo những hướng dẫn về việc thiết lập mô hình thức, ngủ điều độ không?

-    Bệnh nhân có tránh uống cà phê hay không?

-    Bệnh nhân có tham gia vào các hoạt động kích thích ban ngày để tránh các cơn ngủ chợp hay không?

-    Có phải tất cả các phương pháp đều được thực hiện để tạo ra môi trường thoải mái cho bệnh nhân ngủ hay không?

-    Có những thói quen hỗ trợ lúc đi ngủ hay không?

-    Những phương pháp thư giãn và thoải mái đã được sử dụng có hiệu quả không?

EBOOK - SÁCH ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
NHU CẦU CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI
HỒ SƠ BỆNH NHÂN VÀ CÁCH GHI CHÉP
KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN
VÔ KHUẨN - TIỆT KHUẨN
CHUẨN BỊ GIƯỜNG BỆNH
CHO BỆNH NHÂN DÙNG THUỐC
PHƯƠNG PHÁP VẬN CHUYỂN BỆNH NHÂN
KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN GIỚI TÍNH
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN HỆ TIẾT NIỆU
CHĂM SÓC CÁC RỐI LOẠN Ở HỆ TIÊU HOÁ
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN KHI ĐAU
CHĂM SÓC RỐI LOẠN GIẤC NGỦ
CÁC TƯ THẾ NGHỈ NGƠI TRỊ LIỆU
CHĂM SÓC CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CƠ THỂ
ĐO DẤU HIỆU SỐNG
KỸ THUẬT TIÊM THUỐC
QUY TRÌNH ĐIỀU DƯỠNG
THÔNG TIỂU
THỤT THÁO
PHƯƠNG PHÁP CẤP CỨU BỆNH NHÂN NGỪNG HÔ HẤP, NGỪNG TUẦN HOÀN
RỬA TAY NGOẠI KHOA (SCRUBBING)
MẶC ÁO VÀ MANG GĂNG TAY VÔ TRÙNG (GOWNING AND CLOSED GLOVING)
KỸ THUẬT BĂNG BÓ
RỬA TAY THƯỜNG QUY
THAY BĂNG, RỬA VẾT THƯƠNG ỐNG DẪN LƯU
CÁCH LẤY MỘT SỐ BỆNH PHẨM ĐỂ LÀM XÉT NGHIỆM
ĐẶT XÔNG DẠ DÀY - RỬA DẠ DÀY
LIỆU PHÁP ÔXY
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC CHỌC DÒ TUỶ SỐNG, MÀNG BỤNG, MÀNG PHỔI VÀ MÀNG TIM
ĐO LƯỢNG DỊCH VÀO - RA
DỰ PHÒNG VÀ CHĂM SÓC LOÉT ÉP
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ ĐIỆN GIẬT
SƠ CỨU BỆNH NHÂN BỊ TAI NẠN DO NƯỚC
SƠ CỨU NẠN NHÂN BỊ TAI NẠN DO NHIỆT
TRỢ GIÚP THẦY THUỐC ĐẶT CATHETER VÀ ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN
SƠ CỨU GÃY XƯƠNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com