Cấp cứu ngừng tuần hoàn - hô hấp

Đại cương

Vì vậy, hồi sức tuần hoàn-hô hấp phải được thực hiện liên tục cho đến khi tuần hoàn và hô hấp của bệnh nhân được phục hồi hoàn toàn, thật ổn định hoặc hồi sức không thể tiếp tục khi bệnh nhân được xác nhận đã tử vong mới chấm dứt.

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân, đặc biệt những nguyên nhân hay gặp:

Chẩn đoán

Có 2 hoàn cảnh xảy ra: ở ngoài bàn mổ và ngay trên bàn mổ.

Chẩn đoán dựa vào các dấu hiệu sau:

Hình 7.1. Sờ động mạch cảnh để chẩn đoán

Ngừng tim xảy ra trên bàn mổ

Các hình thái ngừng tuần hoàn

Hay gặp ở các trường hợp ngừng tuần hoàn trong phòng mổ và phòng hồi sức sau mổ. Trên điện tim chỉ thấy một đường thẳng, không thấy phức bộ QRS.

Hay gặp ở các trường hợp bị nhồi máu cơ tim cấp. Hay xảy ra ở phòng hồi sức tim mạch. Trên điện tim chỉ thấy sóng thất không đều (rung thất).

Trường hợp này do cung lượng tim quá thấp, không bảo đảm duy trì tuần hoàn cho các cơ quan quan trọng. Nguyên nhân thường do thiếu oxy kéo dài, rối loạn nhịp tim, sốc tim nặng. Trên điện tim các sóng còn nhưng biên độ thấp hoặc có nhịp thất thưa ở những trường hợp đang hấp hối.

Xử trí

Cấp cứu ngừng tuần hoàn là một cấp cứu khẩn cấp nhất, không nên tìm đủ mọi triệu chứng để xác định chắc chắn chẩn đoán mà cần phải tiến hành ngay cấp cứu không để chậm trễ, vì thời gian tính từng giây.
Tùy theo từng hoàn cảnh, cấp cứu ngừng tuần hoàn-hô hấp bao gồm các bước như sau:

Xử trí cấp cứu

Sau khi đã lay gọi mà bệnh nhân vẫn không tỉnh, người cứu chữa gọi to đê 0 nhờ người hỗ trợ, sau đó đặt bệnh nhân nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng và tiến hành lần lượt 3 bước sau đây:

Khai thông đường thở (airway control)

Khi bị ngừng tuần hoàn bệnh nhân thường kèm theo mất tri giác gây giảm trương lực các cơ vùng cổ và lưỡi, làm lưỡi tụt ra phía sau gây tắt đường thở. Có 3 cách để giải phóng đường thở:

Hình 7.2. Khai thông đường thở bằng cách ngửa đầu- đẩy cằm

Khi nghi ngờ bệnh nhân có chấn thương cột sống cổ thì chỉ nâng hàm dưới lên, tránh di chuyển cổ nhiều có thể gây tổn thương tuỷ cổ.

Hình 7.3. Dùng tay nâng hàm dưới

+ Nếu có dị vật nằm sâu trong hầu họng mà không móc bỏ được thì có thể làm thủ thuật Heilmlich. Thủ thuật có thể được thực hiện cho bệnh nhân ở tư thế đứng hay nằm. Với trẻ nhỏ, có thể cho trẻ nằm sấp và vỗ mạnh vào lưng.

Hình 7.4. Thủ thuật Heilmlich

Hô hấp nhân tạo

Sau khi đã khai thông đường thở, cần phải kiểm tra xem bệnh nhân có thở không bằng cách nhìn lồng ngực bệnh nhân. Nếu bệnh nhân không thở tiến hành ngay hô hấp nhân tạo. Phương pháp hô hấp nhân tạo trong cấp cứu ban đầu ngoài bệnh viện thường được sử dụng phổ biến là hà hơi thổi ngạt kiểu miệng - miệng hay miệng -mũi. Cách thực hiện như sau:

Khi đã thực hiện các cách trên, mà vẫn không thấy ngực bệnh nhân phồng lên khi thổi thì phải nghĩ có cản trở trong đường thở hoặc do áp lực thổi không đủ cần phải kiểm tra lại đường thở và thực hiện đúng kỹ thuật.

Hình 7.5. Hô hấp nhân tạo kiểu miệng- miệng (trái) và kiểu miệng - mũi (phải)

Nếu hoàn cảnh cấp cứu xảy ra trong bệnh viện hay ở nơi có trang bị các phương tiện hô hấp nhân tạo có thể dùng các phương tiện sau đây trong cấp cứu:

Ưu điểm của các phương tiện này:

Sau cấp cứu vài phút ban đầu nên tiến hành đặt nội khí quản (NKQ) để tiếp tục hô hấp nhân tạo, đặt NKQ và hô hấp nhân tạo là phương tiện hô hấp hiệu quả nhất trong cấp cứu ngừng tuần hoàn. Tuy nhiên người thực hiện thủ thuật đặt nội khí quản phải thành thạo, tránh thực hiện lâu gây thiếu oxy làm cho tình trạng bệnh nhân càng nặng thêm.

Cấp cứu tuần hoàn (Circulation)

Cấp cứu tuần hoàn bằng cách hoặc là bóp tim ngoài lồng ngực hoặc là bóp tim trong lồng ngực hay bóp tim qua cơ hoành (nếu đang phẫu thuật ở tầng trên ổ phúc mạc).


Hình 7.6. Vị trí và tư thế bóp tim ngoài lồng ngực

Điều trị thực thụ
Hô hấp nhân tạo

Để sự thông khí có hiệu quả hơn, đồng thời tránh làm căng dạ dày và trào ngược cần tiến hành đặt ống nội khí quản và cung cấp oxy 100%.

Đường truyền tĩnh mạch

Làm ngay một đường truyền để tiêm thuốc. Trong lúc chờ đợi, có thể bơm một số thuốc qua ống nội khí quản như adrenaline, lidocaine, atropine. Liều lượng thường gấp 2 hay 3 lần liều tiêm tĩnh mạch và pha loãng với nước cất cho đủ 10ml. Ngày nay người ta không bơm thuốc vào buồng tim vì có thể gây ra nhiều biến chứng như tràn máu màng tim, tràn khí màng phổi, thương tổn động mạch vành, trừ trường hợp bóp tim trong lồng ngực.

Các loại thuốc chính

Chống rung tim

Nhằm khử cực toàn bộ khối cơ thất bằng một dòng điện mạnh trong một thời gian ngắn, sau đó do hệ thần kinh tự động của tim điều khiển để cho tim hoạt động được trở lại. Chống rung chỉ có kết quả khi các thớ cơ khỏe (chứng tỏ cơ tim được cung cấp đầy đủ oxy) và các kích thích ngoại lai đã được ức chế. Thực hiện chống rung bằng 2 cách: gián tiếp (ngoài lồng ngực) và trực tiếp (trong lồng ngực):

Hình 7.7. Chống rung tim gián tiếp

Săn sóc, điều trị sau khi cấp cứu

GIÁO TRÌNH GÂY MÊ - HỒI SỨC CƠ SỞ

1. Các phương pháp gây mê
2. Các phương pháp gây tê
3. Truyền máu
4. Các dung dịch thay thế huyết tương
5. Rối loạn thăng bằng nước và điện giải
6. Rối loạn cân bằng toan kiềm
7. Cấp cứu ngừng tuần hoàn hô hấp
8. Đại cương về sốc
9. Liệu pháp oxy
10. Vô khuẩn - khử khuẩn
11. Thăm khám bệnh nhân trước gây mê
12. Chăm sóc bệnh nhân sau mổ
13. Sốc phản vệ và dạng phản vệ
14. Biến chứng gây mê
15. Kỹ thuật đặt nội khí quản

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com