CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC CẤP CỨU NGOẠI KHOA GÂY SUY THỞ Ở TRẺ SƠ SINH

GS. PTS. Nguyễn Công Khanh

CÁC CẤP CỨU NGOẠI KHOA GÂY SUY THỞ Ở TRẺ SƠ SINH


1. Thoát vị hoành bẩm sinh
Bào thai học
Từ tuần lễ thứ 4 sau khi có thai, khoang cơ thể  (coelomic cavity) đã hình thành do 3 lá thai khép kín.
Từ thời điểm đó đến tuần lễ thứ 10 có quá trình hình thành cơ hoành từ vách ngang. Vách này có hai mầm: lưng và bụng gặp nhau để hình thành nên cơ hoành chia đôi khoang cơ thể  thành ra ổ phúc mạc và ổ phế mạc.
Nếu hai mầm không nối tiếp với nhau, sẽ có một lỗ khuyết phía sau bên, lỗ Bochdaleck, khiến cho ổ phúc mạc và phế mạc thông tự do với nhau. Lỗ thoát vị ở bên trái nhiều hơn (95%), vì bên phải có gan nên quá trình nối tiếp dễ hơn đối với hai mầm cơ hoành.
Kết quả là ngay từ khi còn là thai nhi, các phủ tạng của bụng như dạ dày, ruột non, lách và một phần đại tràng trái, thùy gan trái đã có thể nằm trong ổ phế mạc, tim đã bị đẩy qua bên phải và nhiều trường hợp giảm sinh phổi trái. Thoát vị cơ hoành dễ có khả năng đi đôi với hiện tượng ruột ngừng quay và dễ tắc tá tràng kèm theo do dây chằng Ladd.
Chẩn đoán
Khi trẻ ra đời, tiếng khóc đầu tiên cũng là nhịp thở đầu tiên. Khi thở, không khí vào khí đạo thì cũng vào thực đạo; dạ dày và ống tiêu hóa như một xăm xe đạp xẹp được bơm căng dần, chèn ép vào phổi cùng bên và cả phổi bên kia, tim và trung thất càng bị dồn sang phía đối diện, bệnh nhi bị tím tái và khó thở dữ dội, nếu không can thiệp ngoại khoa ngay sẽ chóng dẫn đến tử vong. X quang lồng ngực thấy rất rõ các bóng hơi của các quai ruột, kể cả dạ dày và bóng lá lách trong khoang phế mạc.
Cũng có khi đứa bé thoát được giai đoạn nguy kịch sau đẻ, nhưng trong quá trình lớn, luôn bị khó thở, cơ kéo trên xương ức và dưới mũi ức, khó thở và tím môi có thể tăng lên hơn trong hoặc sau khi bú. Rất hãn hữu bệnh nhi sống tới tuổi trẻ nhỏ hoặc trẻ lớn.
Trong thoát vị hoành không nên cho thụt cản quang hoặc uống thuốc cản quang để chụp điện chẩn doán.
Nguyên tắc điều trị
Hình thái thường gặp: biểu hiện nguy kịch ngay từ sau đẻ, bệnh nhi không kịp đưa đến tuyến trung ương để mổ. Trong sơ cứu, động tác hà hơi thổi ngạt càng làm nguy hiểm thêm, vì hơi vào thực đạo nhiều hơn, càng chóng tử vong. Khả năng duy nhất cho đứa bé là được đặt một ống nội khí quản và bóp bóng.
Mổ: cho hết phủ tạng bụng xuống ổ phúc mạc bằng đường trắng bên, khâu lại hai mép lỗ Bochdaleck sau khi đã dẫn lưu khoang phế mạc và bóp bóng làm nở phổi. Nên mở thông dạ dày để làm xẹp ổ bụng sau mổ. Có tác giả khuyên là chỉ nên khâu da (incisional hernia) khi đã đóng thành bụng để khỏi căng ổ bụng gây chèn ép cơ hoành. Chú ý xem có tắc tá tràng do dây chằng Ladd không (xem phần Nôn nặng ở sơ sinh và trẻ còn bú)
2. Teo thực quản
Bào thai học
Trong thời kì bào thai, các cơ quan thực quản, khí phế quản và phổi đều ở tiền tràng (foregut) mà ra. Sẽ có hiện tượng ngăn vách giữa thực quản và khí quản.
Nếu quá trình ngăn vách thái quá thì thực quản sẽ bị teo: đầu trên thực quản là túi cùng tịt ngang đốt sống lưng thứ 3 và trên 90% đầu dưới thực quản sẽ thông thương với khí quản ở mặt sau carina, ít khi đầu dưới thực quản bắt đầu là một túi cùng, nghĩa là ít khi không thông với khí quản.
Chẩn đoán
Thường khi có thai mẹ bị đa ối.
Sau khi ra đời, luôn có những lúc tím tái và sặc ho vì dãi đùn ra nhiều qua mũi và miệng. Lau sạch hút sạch nước dãi bệnh nhi lại hồng hào trở lại. Khi cho uống nước đường hay cho bú, đứa bé luôn bị sặc và ho, tím ngắt lại ngay, có khị hà hơi thổi ngạt mới qua được.
Cho một ống thông số 8 qua mũi vào sẽ thấy đầu ống thông tới một khoảng nào đó sẽ ngừng lại và không cố cho vào được. Nếu là ống thông Nelaton cao su loại mềm, thì đầu ống thông sẽ lộn trở lại đằng miệng.
Với ống thông nên bơm khoảng 1ml hypaque vào để chụp túi cùng trên. Nếu ổ bụng có hơi trong dạ dày ruột là teo có rò, nếu ổ bụng tối  đen không có bóng hơi là teo không có rò.
Bệnh nhi đến muộn sẽ bị viêm phổi hóa học nặng do trào ngược dịch vị qua lỗ rò, về sau viêm phổi do nhiễm khuẩn.
Nguyên tắc điều trị
Teo có rò: nên mổ chữa ngay dù trọng lượng lúc đẻ thấp, mở lồng ngực phải theo đường sau bên theo liên sườn IV hoặc ngoài phế mạc, vào trung thất sau, thắt và cắt rời tĩnh mạch đơn (azygos), tìm đường rò, cắt rời ra khỏi carina, khâu lại khí quản bằng chỉ lụa 5/0 mũi rời, phẫu tích thêm đầu dưới. Phẫu tích túi cùng trên và nối lại hai đầu thực quản với chỉ lụa 5/0, một lớp, mũi rời, điểm đâm xuyên. Khâu nối trên ống thông từ mũi vào qua miệng nối ,. xuống đến dạ dày. Không mở thông dạ dày. Cho ăn sớm sau mổ bằng ống thông; từ 5-7 ngày sau mổ rút ống thông cho bú bình thường. Nếu vào khoang phế mạc phải dẫn lưu phế mạc.
Chúng tôi thấy mổ ngay một lần là nên làm vì nếu mổ nhiều lần phải làm 3 động tác: dẫn lưu thực quản cổ, thắt đường rò và khâu lại lỗ rò khí quản và mổ thông dạ dày (với nhiều nguy cơ bục chỉ khâu); tiến hành rất lâu và phức tạp, chỉ tiến hành nếu hai đầu thực quản quá xa không nối được ngay, khoảng 3 tháng tuổi sẽ tạo hình thực quản bằng đại tràng ngang..
Từ hai thập kỉ qua, các trung tâm phẫu thuật nhi đã biết chăm sóc bệnh nhi và chờ đến 15 ngày sau đẻ mới mổ chữa: nuôi dưỡng tĩnh mạch, hút sạch đờm dãi, nong đầu trên bằng ống nong mềm để chuyển dịch đáy túi cùng trên xuống cho dễ nối hơn. Biện pháp này đòi hỏi vô khuẩn rất cao và nhất là nuôi dưỡng đường tĩnh mạch.
Đối với trường hợp khoảng cách giữa túi cùng thực quản và đầu dưới với đường dò quá xa nhau, trong vòng 15 năm gần đây mội số tác giả Mỹ đã mổ lớp cơ thực quản ở phần túi cùng trên theo hình xoắn ốc để có thể kéo giãn được đầu trên giúp cho việc nối thực quản thuận lợi hơn.
Teo không có rò: hai đầu thực quản với hai túi cùng thường cách xa nhau nhiều, nối ngay cũng rất khó: tốt nhất là mở thông dạ dày cho ăn và dẫn lưu túi cùng thực quản trên ra cạnh cổ bên trái và 3 tháng sau tạo hình thực quản bằng đại tràng ngang, hoặc chuyển vị dạ dày lên trung thất sau để nối lại với thực quản.
3. Giãn phế nang bẩm sinh ở thùy phổi
Thường gặp ở thùy dưới phổi phải, do phế quản thùy không có sụn, không khí thở vào được nhưng không thoát ra được.
Thùy phổi ngày càng giãn căng, nếu X quang lồng ngực sẽ thấy tăng sáng khác thường, bệnh nhi tím tái khó thở, trung thất bị chuyền sang trái, sau cùng là vỡ phế nang, vỡ thùy phổi và tử vong. Phải mổ cấp cứu cắt thùy phổi.

APXE PHỔI Ở TRẺ EM
BỆNH LÍ ỐNG PHÚC TINH MẠC Ở TRẺ EM
CÁC BỆNH NANG THẬN Ở TRẺ EM
DỊ DẠNG BÀNG QUANG
ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU Ở TRẺ EM
DỊ DẠNG LỖ ĐÁI THẤP
DỊ DẠNG NIỆU QUẢN
DỊ DẠNG VÔ HẠCH Ở TRẺ EM
GIÃN PHẾ QUẢN Ở TRẺ EM
LỒNG RUỘT Ở TRẺ CÒN BÚ VÀ TRẺ LỚN
CÁC NANG PHỔI Ở TRẺ EM
CÁC BIẾN CHỨNG NGOẠI KHOA DO NHIỄM KHUẨN HUYẾT
BỆNH POLIP Ở ĐẠI TRÀNG Ở TRẺ EM
TẮC RUỘT CẤP TÍNH Ở TRẺ EM
CÁC TAI BIẾN NGOẠI KHOA DO GIUN ĐŨA Ở TRẺ EM
BÀO THAI HỌC VỀ THẬN TIẾT NIỆU
BỆNH TỤ CẦU PHỔI
U QUÁI THAI Ở TRẺ EM
Ung thư phôi thai thận hay u Wilms
Ung thư phôi thai giao cảm
VIÊM MỦ MÀNG NGOÀI TIM Ở TRẺ EM
CÁC THỂ LOẠI VIÊM PHÚC MẠC Ở TRẺ EM
VIÊM RUỘT THÙA CẤP Ở TRẺ EM
Apxe gan do giun đũa
Các nang bẩm sinh đường mật
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở trẻ em
Teo mật bẩm sinh
THĂM KHÁM MỘT BỆNH NHI CÓ KHỐI U BỤNG
U, UNG THƯ TỤY
DỊ DẠNG BẤM SINH VÀ BỆNH MẮC PHẢI Ở TRẺ EM
KHE HỞ THÀNH BỤNG
NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU TRỊ NÔN NẶNG RA MẬT
NÔN NẶNG, NÔN RA SỮA Ở TRẺ SƠ SINH VÀ TRẺ CÒN BÚ
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC CẤP CỨU NGOẠI KHOA GÂY SUY THỞ Ở TRẺ SƠ SINH
TẮC RUỘT CƠ NĂNG HOẶC KHÔNG HOÀN TOÀN
TẮC RUỘT Ở TRẺ SƠ SINH
ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ QUA DÂY RỐN Ở TRẺ EM
U QUÁI CÙNG CỤT SƠ SINH
CẤP CỨU NGOẠI KHOA DỊ DẠNG HẬU MÔN, TRỰC TRÀNG Ở TRẺ SƠ SINH
CÁC U BẠCH HUYẾT

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com