CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG REYE

PGS. Đặng Phương Kiệt


Hội chứng Reye (mang tên tác giả, phát hiện năm 1963) có đặc trưng về mặt lâm sàng là một hội chứng não cấp (hôn mê diễn biến rất nhanh, chỉ trong vài giờ, về mặt hóa sinh là hội chứng suy gan cấp (hạ đường huyết, giảm tỉ lệ prothrombin, tăng amoniac máu) đồng thời tăng nồng độ các acid béo tự do trong máu, nhưng về mặt giải phẫu bệnh lại là tình trạng thoái hóa  mỡ (thực chất là ngấm đọng các giọt acid béo tự do) ở tế bào gan và các tế bào nội tạng khác (cơ tim, ống thận, tế bào não, w.) nhưng không tìm thấy dấu hiệu viêm. Gần đây, có bằng chứng tìm thấy tổn thương đặc hiệu của hội chứng Reye là suy biến siêu cấu trúc ti lạp thể tế bào gan và rối loạn hoạt tính enzym của toàn bộ ti lạp thể.


CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG REYE


Triệu chứng lâm sàng
• Hôn mê đột ngột và nhanh, trước đó có thể nôn, thường xuất hiện sau bệnh nhiễm trùng do virus (cúm, thủy đậu, w.) đã hồi phục.
• Hội chứng tăng áp lực nội sọ (do phù não nặng): hôn mê sâu, tăng thông khí, thở không đều, dấu hiệu Babinski, tăng phản xa kèm theo tư thế bóc vỏ não hoặc và mất não, dẫn tới tử vong do suy thở.
• Gan không to hoặc to ít, da không vàng, có thể có xuất huyết đường tiêu hóa.
Thay đổi sinh hóa
Máu: đường giảm, tỉ lệ prothrombin giảm, transaminaza GOT và GPT tăng, amoniac tăng (có ý nghĩa tiên lượng).
Dịch não tủy: đường rất thấp, protein thấp, phản ứng Pandy âm tính, không có tế bào.
Nước tiểu: thể xêtonic, có thể có albumin.
Giải phẫu bệnh
Não bị phù rất nặng (khoảng Virchow Robin giãn rộng, hầu hết các phụ tạng đều bị thoái hóa mõ, đặc biệt là gan, co tim, ống thận, tụy. Nhưng không có bằng chứng viêm. Quá trình thoái hóa mõ có thể đảo nguọc được nếu bệnh nhi kịp hồi phục và không dế lại di chứng.


ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG REYE


Tùy theo các giai đoạn lâm sàng (theo F.H.Lovejoy).
Giai đoạn 1.
Triệu chứng: nôn, ngủ gà.
Xử lí: truyền dịch tĩnh mạch hạn chế (2/3 nhu cầu duy trì), gồm Dextroza 10% và Clorua natri 0,9% (tỉ lệ 1/4 hoặc 1/3), 40-70 ml/kg/24 giờ.
Giám sát các dấu hiệu sống: mạch, nhịp thở.
Tránh kích thích có thể làm tăng áp lực nội sọ.
Giai đoạn 2.
Triệu chứng: mê sảng, tăng thông khí (thở nhanh sâu).
Xử lí: Mannitol 20%, 1g/kg tiêm tĩnh mạch, nhỏ giọt trong 30 phút, nhắc lại liều này 6 giờ/lần.
Dexamethason 0,2 mg/kg tiêm tĩnh mạch, tiếp theo 0,1 mg/kg cũng 6 giờ/lần.
Giai đoạn 3 trở đi
Triệu chứng: hôn mê sâu, rối loạn nhịp thở, tư thế mất não.
Xử lí:
Đặt ống nội khí quản, hô hấp hỗ trợ.
Thực hiện tăng thông khí (bằng máy thở) để đạt PCO2  20-25 mmHg, PO2 trên 80mmHg.
Mannitol 1g/kg, tiêm tĩnh mạch trong 30 phút, nếu 3 giờ trước đó chưa dùng.
Lasix 1 mg/kg, tĩnh mạch.
Có thể tiêm Thiopental 2-4 mg/kg, tĩnh mạch trong điều kiện đảm bảo hỗ trợ hô hấp.
Giám sát liên tục áp lực nội sọ (nếu có điều kiện) đảm bảo ở mức dưới 20 mmHg.
Nếu các biện pháp trên vô hiệu, có tác giả đặt vấn đề làm giảm áp lực cơ học bằng đặt ống thông vào não thất. Chỉ tiến hành trong điều kiện vô khuẩn nghiêm ngặt và do các nhà phẫu thuật thần kinh lành nghề thực hiện.

ĐIỀU TRỊ APXE NÃO
ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG REYE
VIÊM NÃO DO VIRUS
XUẤT HUYẾT MÀNG NÃO - NÃO

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com