Ung thư biệt hóa tuyến giáp


(Differentiated thyroid carcinoma)


1. Khái niệm ung thư biệt hóa tuyến giáp.


Ung thư biệt hóa tuyến giáp bao gồm Ung thư nhú và Ung thư tuyến. Ung thư nhú chiếm 3/4 các trường hợp Ung thư nói chung và hay gặp hơn so với ung thtuyến. Sự hiện diện của Ung thư tuyến không làm thay đổi sự phân loại, tiên lượng và điều trị của Ung thư nhú. Ung thư tuyến thuần nhất trở nên hiếm gặp hơn chiếm khoảng 10% trong số trường hợp Ung thư biệt hóa, có tiến triển xấu hơn so với Ung thư nhú.
Bệnh nhân Ung thư tuyến giáp thuộc nhóm có nguy cơ thấp là những bệnh nhân trẻ (nam dưới 41 tuổi và nữ dưới 51 tuổi) và những người cao tuổi bị ung thư tuyến giáp trong bao với sự xâm lấn tối thiểu vào nang, khối Ung thư nguyên phát có đường kính < 5cm, không di căn xa. Theo cách phân loại này thì khoảng 90% trường hợp Ung thư tuyến giáp thuộc nhóm nguy cơ thấp, tỉ lệ tử vong chỉ là 1 - 2%. Nhóm Ung thư với nguy cơ cao tỉ lệ tử vong là 30%.


2. Lâm sàng ung thư biệt hóa tuyến giáp.


Triệu chứng lâm sàng thường nghèo nàn. Đa số Ung thư xuất hiện trên nền một bướu tuyến giáp đã có sẵn từ trước. Những biểu hiện đầu tiên là sự xuất hiện một vùng tương đối chắc thường khu trú ở một thùy. Khối lượng phát triển to dần, mật độ chắc, xâm lấn vào các cơ quan như khí quản, thực quản, vùng họng, các cơ, bó mao mạch thần kinh làm hạn chế cử động vùng cổ, biến đổi về hình thái của cổ, thay đổi giọng nói. Ung thư tuyến giáp phát hiện được trên lâm sàng chỉ chiếm khoảng 35%, khi mổ tử thi khả năng phát hiện được ung thtuyến giáp đạt tới 90% trường hợp. Tuy vậy di căn thường muộn. Di căn vào các hạch bạch huyết, phổi, xương, gan, màng tim, màng phổi. Ung thư tuyến giáp tiến triển từ từ, mức độ ác tính thấp.


3. Xét nghiệm ung thư biệt hóa tuyến giáp.


- Xạ hình tuyến giáp:
Tổ chức Ung thư nguyên phát hấp thu 131I kém. Ung thư tuyến và tổ chức di căn tăng hấp thu.
- Chọc hút hoặc sinh thiết tuyến giáp, hạch bạch huyết có giá trị quyết định chẩn đoán.
- X quang có bơm hơi trung thất, chụp cắt lớp tuyến giáp để xác định vị trí di căn của ung thư.


4. Điều trị ung thư biệt hóa tuyến giáp.


Để tiến hành điều trị Ung thư tuyến giáp cần có sự phối hợp của các bác sĩ chuyên ngành gồm nội tiết học, bác sĩ ngoại khoa, chuyên gia phóng xạ và bác sĩ nội khoa chung. Các biện pháp chủ yếu bao gồm phẫu thuật, dùng 131I, bồi phụ hormon tuyến giáp.


4.1. Phẫu thuật ung thư biệt hóa tuyến giáp:


Mặc dù đa số các tác giả đều thấy rằng phẫu thuật cắt bỏ khối Ung thư biệt hóa tuyến giáp có hiệu quả tốt, song mức độ, khối lượng cắt bỏ là bao nhiêu luôn là vấn đề còn bàn cãi.
Nếu là nhân đơn nghi ngờ ác tính thì cắt bỏ thùy tuyến giáp có nhân là phương pháp thường được lựa chọn nhất. Phần còn lại có thể vẫn còn chứa 1 số mô tổn thương nằm ở sát bờ của mô lành. Đối với những trường hợp Ung thư có nguy cơ cao, dễ có khả năng tái phát thường tiến hành cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp.
Nhiều tác giả cho rằng nếu kích thước khối u > 1cm thì cũng nên cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp. Một số tác giả khuyến cáo nếu khối u khu trú ở một thùy của tuyến giáp thì chỉ cần cắt bỏ thùy đó là đủ. Eo của tuyến giáp cũng thường bị cắt bỏ trong trường hợp cắt thùy tuyến giáp.
Trường phái ủng hộ phẫu thuật cắt bỏ không hoàn toàn thì cho rằng: cắt bỏ tuyến giáp làm xuất hiện suy chức năng tuyến cận giáp vĩnh viễn và tổn thương dây thần kinh thanh quản hay bị tái phát. Kết quả cho thấy trong phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ hoặc gần hoàn toàn tuyến giáp thì tỉ lệ tái phát và tử vong ít hơn 1/3 so với cắt bỏ thùy tuyến giáp. Tuy vậy, biến chứng suy chức năng vĩnh viễn tuyến cận giáp và tổn thương tái phát dây thần kinh quặt ngược thì lại cao nhiều trong phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp. Cắt gần toàn bộ tuyến giáp cho những trường hợp vùng tổn thương ác tính > 2cm, bớt lại vài gram nhu mô tuyến giáp ở phía trên của thùy có tổn thương xâm lấn ít hơn. mặc dù biết rất rõ về nguy cơ cắt bỏ toàn bộ tuyến giáp song phương pháp vẫn được áp dụng ở những bệnh nhân bị Ung thư cả 2 thùy. Việc cắt bỏ các hạch bạch huyết lân cận ở vùng cổ với mục đích dự phòng trong Ung thư tuyến giáp không có giá trị. Công việc này được quyết định trong thời gian phẫu thuật.


4.2. Điều trị phóng xạ ung thư biệt hóa tuyến giáp:


Ung thư biệt hóa của tuyến giáp đáp ứng tốt với 131I. Thứ nhất là loại bỏ được các mô tuyến giáp còn lại sau phẫu thuật. Thứ hai là tiêu diệt các tổ chức di căn hoặc tái phát. Đa số các trường hợp sử dụng 131I với liều 30 mci hoặc cao hơn.
+ Sử dụng iod phóng xạ:
Điều trị bằng phóng xạ 131I được khuyến cáo áp dụng đối với các trường hợp Ung thư biệt hóa tuyến giáp đã phẫu thuật dựa trên xạ hình tuyến giáp. Sau cắt gần hoàn toàn tuyến giáp ở những bệnh nhân có nguy cơ thấp với Ung thư nhú kích thước < 2cm có chỉ định chụp xạ hình. Nếu trên xạ hình nhu mô tuyến giáp còn sót lại ít thì sử dụng xạ với liều 30 mci, điều trị ngoại trú. Đối với những trường hợp kích thước khối u > 2cm thuộc nhóm nguy cơ cao cần sử dụng tới liều 100 mci 131I. Cần phải làm xạ hình lại sau 12 tháng hoặc có bằng chứng ung thư phát tán.

 


+ Thuốc dùng cho chiếu xạ sau phẫu thuật:
Sau phẫu thuật thường dùng L -T3 (Liothyronin, Cytomel) với liều 50 - 75mcg/ngày chia làm 2 lần (khoảng 0,8mcg/kg). Dùng trong 4 tuần sau mổ và phải dừng thuốc 2 tuần trước khi dùng 131I. Sau phẫu thuật có thể chụp xạ hình hoặc đo độ tập trung 131I tại tuyến giáp trước khi điều trị bằng iod phóng xạ. Sau đó dựa vào kết quả để quyết định liều phóng xạ cho thích hợp với từng trường hợp.
4.3. Bồi phụ hormon tuyến giáp:
Để điều trị suy chức năng tuyến giáp sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp và phóng xạ cần phải bổ xung hormon tuyến giáp. Thường dùng L - T4 với liều 2,2mcg/kg/ngày. Trên các khối u thường có các thụ cảm thể tiếp nhận TSH và các thụ cảm thể này thường phát triển phụ thuộc vào nồng độ TSH. Do đó việc dùng liều L - T 4 cao sẽ có tác dụng duy trì nồng độ TSH ở mức thấp. ở những bệnh nhân có nguy cơ cao cần duy trì nồng độ thấp hơn 0,01 mU/ml. ở bệnh nhân Ung thư biệt hóa tuyến giáp cần theo dõi nồng độ thyroglobulin huyết thanh, vì thyroglobulin là sản phẩm tiết của phần lớn Ung thư biệt hóa tuyến giáp cũng tương tự như nhu mô tuyến giáp bình thường. Sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, nồng độ thyroglobulin giảm thấp. Nồng độ TSH cao thường kích thích tổ chức Ung thư tiết thyroglobulin. Do vậy, nồng độ thyroglobulin cũng cần được theo dõi thường xuyên cùng với xạ hình tuyến giáp. Kể cả khi bệnh nhân bị suy giáp sau dùng phóng xạ thì nồng độ thyroglobulin cũng cần đ- ược định lượng. Do vậy nồng độ thyroglobulin là một chỉ số có giá trị để theo dõi và điều chỉnh các phương pháp điều trị.
4.4. Theo dõi bệnh nhân với ung thư biệt hóa tuyến giáp:
Cần phải theo dõi bệnh nhân ít nhất 3 - 6 tháng/lần trong vòng 5 năm. Ngoài các triệu chứng lâm sàng liên quan đến việc tái phát Ung thư còn phải theo dõi các biểu hiện của hội chứng cường hoặc suy chức năng tuyến giáp. Các chỉ số cần định lượng bao gồm nồng độ TSH và thyroglobulin huyết thanh. Chụp X quang phổi đề phòng Ung thư di căn.
+ Điều trị Ung thư di căn bằng iod phóng xạ:
Iod phóng xạ 131 (131I) thường được sử dụng để điều trị Ung thư biệt hóa tuyến giáp di căn. Một trong các biểu hiện di căn của Ung thư là tăng nồng độ thyroglobulin huyết thanh, có thể sử dụng xạ hình để đánh giá.
Liều phóng xạ 131I thường dùng là 2 - 10 mci. Nếu kết quả xạ hình (+) với biểu hiện bệnh tái phát hoặc di căn thì cần phải cho bệnh nhân nhập viện và dùng với liều 100 - 200mci 131I. Liều tối đa cho tất cả các lần là 600 - 1200 mci, mặc dù với liều >500mci đã xuất hiện một số biến chứng.
+ Phẫu thuật điều trị di căn:
Trong 1 số trường hợp sử dụng 131I không điều trị được di căn do ung thư. Nếu Ung thư tái phát, sờ nắn được hoặc phát hiện trên xạ hình thì cần phải tái phẫu thuật, đặc biệt như trong di căn xương.
+ Chiếu xạ:
Chiếu xạ có hiệu quả tốt đối với những trường hợp Ung thư biệt hóa tuyến giáp song không dùng được 131I hoặc không chỉ định với phẫu thuật. Chiếu xạ có thể làm hạn chế tái phát bệnh. Phương pháp được chỉ định cho những trường hợp Ung thư có kích thước rất lớn hoặc là phóng xạ không tập trung.
+ Hóa chất:
Hóa chất thường không có hiệu quả đối với Ung thư biệt hóa tuyến giáp. Dùng doxorubicin, bleomycin hoặc các chế phẩm khác chỉ là những biện pháp phối hợp điều trị cũng có tác dụng nhất định song ở rất ít bệnh nhân. Hóa trị liệu có thể dùng cho những bệnh nhân Ung thư biệt hóa tuyến giáp rất khó kiểm soát.

Viêm gan mạn
Viêm phổi cấp
Viêm tụy mạn
Bệnh lao
bệnh luput ban đỏ hệ thống
Bệnh mắt do Basedow
bệnh tê phù
Bệnh to đầu chi
Bệnh u lymphô ác tính
Các bệnh tổ chức liên kết
Cơn nhiễm độc giáp cấp - Cơn bão giáp
Đái tháo đường
Đái tháo nhạt
Điều trị rối loạn nhịp tim
Giãn phế quản
Giun sán Đường ruột
Hẹp van động mạch chủ
Hở van động mạch chủ
Hội chứng suy thận mạn
Hội chứng thận hư
Hội chứng viêm cầu thận mạn
Suy chức năng Tuyến giáp
Suy tim mạn tính
suy tủy xương
Suy tuyến yên
Tăng huyết áp động mạch hệ thống
Thấp tim
Thiếu máu dinh dưỡng
Thiếu máu huyết tán tự miễn
Tràn dịch màng phổi
U trung biểu mô màng phổi ác tính
Ung thư biệt hóa tuyến giáp
Ung thư dạ dày
Ung thư phổi mức độ ác tính thấp
Ung thư phổi nguyên phát
Ung thư phổi thứ phát
VIÊM CẦU THẬN CẤP
Viêm cơ tim
Viêm đại tràng mạn tính
Viêm đường mật
Viêm phế quản cấp
Viêm thận - bể thận mạn tính
Vữa xơ động mạch
xơ gan

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com