TẠP CHÍ : THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ MỘT SỐ CYTOKINE TRONG HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI AFB (+) TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ

TÓM TẮT

So sánh nồng độ của 9 cytokine ở 39 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) trước và sau điều trị với 32 người bình thường, chúng tôi thu được kết quả: Ở nhóm bệnh nhân lao phổi trước điều trị đã thấy tăng nồng độ trung bình của các cytokine liên quan đến đáp ứng của cả tế bào Th1 và Th2. Xu hướng đáp ứng của Th1 rõ rệt hơn, biểu hiện ở nồng độ trung bình của IL2, IL12, IFN-γ và TNF-α đã tăng cao hơn nhiều so với nhóm chứng. Sau điều trị, nồng độ trung bình của IL2, IL5, IL12, IL13, GM-CSF, IFN-γ, TNF-α giảm nhưng còn cao hơn so với nhóm chứng, IL4 tăng và IL10 giảm thấp hơn so với nhóm chứng

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, vai trò của hai tiểu quần thể tế bào Th là Th1 và Th2 đã được biết rõ cùng với các kiểu đáp ứng miễn dịch mà chúng tạo ra. Hoạt động theo hướng này sẽ ức chế hướng kia và hậu quả là cân bằng của đáp ứng theo hướng Th1 hay Th2 sẽ quyết định hiệu quả của quá trình đáp ứng miễn dịch cũng như có giá trị tiên lượng bệnh. Các cytokine đóng vai trò trung gian trong việc trao đổi tín hiệu giữa các tế bào của hệ thống miễn dịch. Khi hệ thống miễn dịch tương tác với kháng nguyên thì hoạt động chế tiết cytokine của các tế bào miễn dịch sẽ có sự thay đổi, kết quả của sự thay đổi này sẽ định hướng đáp ứng miễn dịch cũng như hiệu quả của đáp ứng chống lại kháng nguyên đó[4].

Nghiên cứu về sự thay đổi nồng độ 9 cytokine liên quan đến đáp ứng của các tế bào Th1 và Th2 trong huyết thanh ở bệnh nhân lao phổi sẽ góp thêm tư liệu về đáp ứng miễn dịch trong bệnh lao, giúp cho việc chẩn đoán và tiên lượng trong theo dõi điều trị. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: Đánh giá sự biến đổi về nồng độ một số cytokine trong huyết thanh máu ngoại vi ở bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) trước và sau 8 tháng điều trị.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu


Nhóm bệnh: 39 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) gồm 28 nam và 11 nữ (từ 18 đến 83 tuổi, tuổi trung bình 38,72 ± 16,13) điều trị tại Bệnh viện 74
Trung ương từ 04/2010 đến 11/2012.
Nhóm chứng: 32 người bình thường gồm 19 nam và 13 nữ (từ 26 đến 59 tuổi, tuổi trung bình 37,16 ± 8,72) đến khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện 74 Trung ương.
Các đối tượng trong 2 nhóm được làm xét nghiệm IL2, IL4, IL5, IL10, IL12, GM-CSF, IFN-γ, TNF- α.

2. Phương pháp nghiên cứu


- Các bệnh nhân được chẩn đoán lao phổi mới AFB(+) theo tiêu chuẩn của CTCLQG, điều trị phác đồ 2SHRZ/6HE, xét nghiệm nồng độ các cytokine trước và sau hoàn thành điều trị.
- Nhóm chứng được khám lâm sàng, chụp X-quang phổi và một số xét nghiệm cơ bản để loại trừ lao phổi và các bệnh lý khác. Xét nghiệm nồng độ các cytokine.
- Định lượng nồng độ các cytokine trong huyết thanh máu ngoại vi tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng sinh y dược học – Học viện Quân y, theo nguyên lý kỹ thuật Flowcytometry – assisted immunoassayvới hệ thống Bio-Plex do hãng Bio- Rad chế tạo.
- Tiến hành thu thập số liệu xét nghiệm miễn dịch theo các nhóm bệnh trước điều trị, sau điều trị và nhóm chứng.
- So sánh nồng độ trung bình của các cytokineở nhóm bệnh trước, sau điều trị và với nhứm chứng.
- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học.

II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1. Đặc điểm tuổi, giới của nhóm bệnh và nhóm chứng

Nhóm
Giới

Nhóm chứng (n=32)

Nhóm bệnh (n=39)

p-values

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Nữ

13

40,6

11

28,2

0,271a

Nam

19

59,4

28

71,8

Tuổi trung bình ± SD

37,16 ± 8,72

38,72 ± 16,13

0,606b

a. Chi-squared test
b. T-student test
Tỷ lệ về giới và độ tuổi trung bình giữa hai nhóm nghiên cứu khác nhau không có ý nghĩa thống kê.


Bảng 2. Nồng độ trung bình của 9 cytokine trong huyết thanh ở nhóm bệnh trước điều trị và nhóm chứng

Nhóm
Cytokine

Nhóm chứng (n=32)

Nhóm bệnh (n=39)

p-values

IL2

0,52 ± 0,81

9,12 ± 31,39

0,042c

IL4

0,26 ± 0,10

1,59 ± 2,34

< 0,001c

IL5

0,53 ± 0,29

4,59 ± 19,29

<0,001c

IL10

1,69 ± 1,31

5,24 ± 9,87

0,835c

IL12

0,88 ± 0,44

5,91 ± 14,44

0,037c

IL13

1,02 ± 0,53

25,70 ± 21,59

<0,001c

GM-CSF

20,09 ± 35,82

24,41 ± 38,48

0,001c

IFN-y

30,57 ± 11,28

100,07 ± 201,42

0,479c

TNF- a

0,55 ± 0,31

426,57 ± 1936,05

<0,001c

c. Mann-Whitney test
Nồng độ trung bình của IL2, IL4, IL5, IL12, IL13, GM-CSF và TNF-α ở nhóm bệnh trước điều trị cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng.


Bảng 3. Nồng độ trung bình của 9 cytokine trong huyết thanh ở nhóm bệnh sau điều trị và nhóm chứng

Nhóm
Cytokine

Nhóm chứng (n=32)

Nhóm bệnh (n=39)

p-values

IL2

0,52 ± 0,81

1,94 ± 10,33

<0,001c

IL4

0,26 ± 0,10

1,96 ± 1,95

<0,001c

IL5

0,53 ± 0,29

1,79 ± 2,23

<0,001c

IL10

1,69 ± 1,31

1,13± 1,06

0,016c

c. Mann-Whitney test Ở nhóm bệnh sau điều trị nồng độ trung bìnhcủaIL2, IL4, IL5, IL12, IL13, GM-CSF và TNF-α cao hơn vàIL10 thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng.

Bảng 4. So sánh nồng độ trung bình của 9 cytokine trong huyết thanh ở nhóm bệnh trước và sau 8 tháng điều trị

Nhóm
Cytokine

Nhóm chứng (n=32)

Nhóm bệnh (n=39)

p-values

IL12

0,88 ± 0,44

2,21 ± 2,49

0,003c

IL13

1,02 ± 0,53

24,88 ± 17,35

<0,001c

GM-CSF

20,09 ± 35,82

21,86 ± 18,99

<0,001c

IFN-y

30,57 ± 11,28

65,92 ± 121,12

0,991c

TNF-a

0,55 ± 0,31

30,12 ± 57,57

<0,001c

d. Wilcoxon – signed rank test
Nồng độ trung bình của IL2, IL10,IFN-γ, TNF- α ở nhóm bệnh sau điều trị thấp hơn có ý nghĩa so với trước điều trị (p < 0,05 và p < 0,01)

IV. BÀN LUẬN

Deveci F. và Cs (2005), Chowdhury IH. và Cs (2014) nghiên cứu đã thấy nồng độ trung bình trong huyết thanh của IL10, IL12, IFN-γ và TNF-α ở nhóm lao phổi hoạt động tăng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm lao phổi không hoạt động và nhóm người bình thường [2], [3].

Tang S. và Cs (2013) nhận thấy nồng độ trong huyết thanh của IL2, IFN-γ và TNF-α ở nhóm bệnh nhân lao phổi hoạt động cao hơn có ý nghĩa so với nhóm người bình thường[8].

Bolad A. và Cs (2012) đã thấy nồng độ IL4 trong huyết thanh ở bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) trước điều trị cao hơn so với nhóm người khỏe mạnh (p = 0,017). Sau điều trị, nồng độ IL4 tăng cao hơn nhưng chưa có ý nghĩa so với trước điều trị (p = 1) và còn cao hơn có ý nghĩa so với nhóm người khỏe mạnh (p = 0,005) [1].

Morosini M. và Cs (2005) nghiên cứu ở bệnh nhân lao phổi đã thấy tăng IL5 và giảm tỷ lệ IFN-γ/IL5 [6].

Kim SY. và Cs (2012) đã thấy nồng độ IL13 ở nhóm bệnh nhân lao phổi hoạt động cao hơn so với người khỏe mạnh. Sau 6 tháng điều trị, nồng độ IL13 giảm so với trước điều trị (p < 0,001) [5].

Qing L. và Cs (2008) cho thấy nồng độ GM-CSF trong huyết thanh ở bệnh nhân lao phổi hoạt động trước điều trị cao hơn có ý nghĩa so với sau điều trị và so với nhóm người khỏe mạnh (p = 0,01)[7].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm bệnh trước điều trị, nồng độ trung bình của IL2, IL4, IL5, IL12, IL13, GM-CSF, TNF-α cao hơn có ý nghĩa và IL10, IFN-γ cao hơn chưa có ý nghĩa so với nhóm chứng. Sau điều trị,nồng độ trung bình củaIL2, IL4, IL5, IL12, IL13, GM-CSF và TNF-α cao hơn và IL10 thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng. Nồng độ trung bình của IL2, IL10,IFN-γ, TNF- α ở nhóm bệnh sau 8 tháng điều trị thấp hơn có ý nghĩa so với trước điều trị.

V. KẾT LUẬN

Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ 9 cytokine ở 39 bệnh nhân lao phổi mới AFB(+) trước và sau điều trị với 32 người bình thường, chúng tôi thấy:

Ở bệnh nhân lao phổi AFB(+) trước điều trị có tăngnồng độ trung bình của các cytokine liên quan đến đáp ứngcủa cả tế bào Th1 và Th2. Xu hướng đáp ứng của Th1 rõ rệt hơn, biểu hiện ở nồng độ trung bình của IL2, IL12, IFN-γ và TNF-α tăng cao hơn nhiều so với nhóm chứng. Sau điều trị, nồng độ trung bình củaIL2, IL5, IL12, IL13, GMCSF, IFN-γ, TNF-α giảm nhưng còn cao hơn so với nhóm chứng, IL10 giảm thấp hơn nhóm chứng và IL4 tăng.

 

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA CEA, CYFRA21-1 TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ TROPONIN T ĐỘ NHẠY CAO Ở BỆNH NHÂN NAM ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ GÚT NĂM 2016

BÁO CÁO CA LÂM SÀ NG: HẸP TĨNH MẠCH CHẬU GỐC PHẢI Ở BỆNH NHÂN CHẠY THẬN NHÂN TẠO

CƠ CHẾ KHÁNG INSULIN

CẬP NHẬT LIỆU PHÁP INSULIN THEO ADA/EASD 2015 TRONG ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

ĐẶC ĐIỂM DỊ DẠNG NANG PHỔI BẨM SINH Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TỪ 1/2011-7/2015

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH THEO GOLD 2015

ĐỘT QUỴ TRÊN BỆNH NHÂN RUNG NHĨ VÀ TÌNH HÌNH DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ TẠI CÁC KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI

ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG BÃO HÒA OXY MÁU TĨNH MẠCH TRỘN SVO2 TRONG HỒI SỨC HUYẾT ĐỘNG BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM

TẠP CHÍ : THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ MỘT SỐ CYTOKINE TRONG HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN LAO PHỔI MỚI AFB (+) TRƯỚC VÀ SAU ĐIỀU TRỊ

CÁC TIẾN BỘ TRONG LOÃNG XƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG TẠI VIỆT NAM

SỤT GIẢM KHUẾCH TÁN PHẾ NANG MAO MẠCH Ở BỆNH NHÂN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

KẾT QUẢ NỘI SOI PHẾ QUẢN SINH THIẾT DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN U PHỔI

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI GIÁ TRỊ SUVMAX VỚI TÌNH TRẠNG ĐỘT BIẾN GEN EGFR Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN GIAI ĐOẠN III VÀ IV TẠI BỆNH
VIỆN BẠCH MAI


VAI TRÒ CURCUMIN – NANO CURCUMIN TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ, VIÊM LOÉT DẠ DÀY

VIÊM GAN NHIỄM ĐỘC: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CƠ CHẾ BỆNH SINH, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

CẬP NHẬT CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRUS C

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ VIÊM GAN VIRÚT MẠN TÍNH KHÁNG THUỐC

NGHIÊN CỨU MỚI CHỮA BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP -BV BẠCH MAI

VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc - Bài Giảng - Giáo Án - Điện Tử
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com