Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K LÀ GÌ , CÔNG DỤNG, CÁCH PHỐI HỢP , TƯƠNG TÁC, CHÚ Ý SỬ DỤNG


Thuốc dùng hoặc tiếp theo liệu pháp heparin, hoặc trực tiếp dự phòng huyết khối nghẽn mạch


Các thuốc trong nhóm


ACENOCOUMAROL viên nén 4 mg
Sintrom viên nén 4 mg
chú ý khi chỉ định thuốc
Cân nhắc nguy cơ / lợi ích: mức độ 3
Thời kỳ cho con bú: Các thuốc kháng vitamin K qua được sữa mẹ.
Thời kỳ mang thai: Nguy cơ chảy máu ở trẻ sơ sinh (đôi khi gây tử vong), vì các coumarin vào hệ tuần hoàn thai nhi, gây tăng tác dụng chống đông máu và giảm giáng hoá thuốc. Warfarin và acenocoumarol có thể gây quái thai, kèm theo giảm sản ở mũi và những dị tật khác.
Tăng huyết áp: Nguy cơ chảy máu khi tăng huyết áp nặng.
Suy gan: Tăng độc tính các thuốc kháng vitamin K, do suy gan làm chậm bất hoạt, và làm rối loạn tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K, kéo theo nguy cơ chảy máu quan trọng. Phenindion có độc tính với gan.
Suy thận: Giảm đào thải qua thận gây tích luỹ các thuốc kháng vitamin K, kèm theo nguy cơ chảy máu.
Loét dạ dày-tá tràng; viêm dạ dày: Nguy cơ chảy máu đường tiêu hoá.
Các trường hợp khác: Khi có hội chứng chảy máu, khi có các tổn thương thực thể có thể chảy máu, khi phải can thiệp ngoại khoa.
Cần theo dõi: mức độ 2
Ăn uống - rượu: Uống một lượng lớn rượu suông, sẽ làm giảm chuyển hoá ở gan các thuốc kháng vitamin K, gây nguy cơ quá liều. Một số rau giàu vitamin K (bắp cải, dưa) có thể làm giảm tác dụng các thuốc kháng vitamin K.
Người bệnh cao tuổi: Người bệnh cao tuổi dễ bị tai biến chảy máu do có những tổn thương kín (thoát vị hoành, tổn thương mới ở não), nên đòi hỏi phải theo dõi lâm sàng và sinh học thật chặt chẽ.
Tương tác thuốc
Phối hợp nguy hiểm: mức độ 4
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Phân tích: Tăng tác dụng các thuốc kháng vitamin K uống (đã mô tả tương tác giữa warfarin với itraconazol, fluconazol và miconazol), chủ yếu do giảm dị hoá ở gan. Tương tác dược động học, do ức chế enzym.
Xử lý: Nếu bắt buộc phải kê đơn đồng thời hai thuốc này, phải tăng cường theo dõi thông qua các xét nghiệm về tỉ lệ prothrombin, tỉ lệ chuẩn hoá quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị với những thuốc chống nấm đã kể.
Cân nhắc nguy cơ / lợi ích: Mức độ 3
Cephalosporin có nhân thiomethyl tetrazol
Phân tích: Tăng nguy cơ chảy máu, chủ yếu với các cephalosporin chứa nhân thiomethyl tetrazol (các thuốc: latamoxef, cefoperazon, cefamandol, cefmenoxim, cefotetan). Nhân này như một dẫn chất coumarin có tính chất chống đông máu (kháng vitamin K), bổ sung thêm tác dụng chống đông máu vào tác dụng kháng vitamin K, hoặc vào tác dụng chống kết tập tiểu cầu của các thuốc chống đông máu.
Xử lý: Nên tránh phối hợp thuốc, chủ yếu với latamoxef, do tăng nguy cơ chảy máu. Cần cảnh giác với các kháng sinh này ở liều cao.
Dipyridamol
Phân tích: Phối hợp với tất cả các thuốc có tính chất chống kết tập tiểu cầu hay chống đông máu đều làm tăng nguy cơ chảy máu. Hiện nay tương tác này có vẻ bị nghi ngờ, vì không có một nhận xét lâm sàng nào khẳng định nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc này, phải theo dõi chặt chẽ bằng những xét nghiệm đông máu thích hợp (thời gian Quick, tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế-INR) trong và sau khi điều trị bằng kết hợp thuốc.
Dextrothyroxin (D-tyroxin)
Phân tích: Dextrothyroxin làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu dùng đường uống. Cơ chế còn chưa rõ.
Xử lý: Theo dõi người bệnh khi dùng kết hợp thuốc này, đặc biệt về hoạt độ chống đông máu. Giảm liều thuốc chống đông máu khi cần.
Dụng cụ đặt trong tử cung
Phân tích: Các dụng cụ đặt trong tử cung gây viêm niêm mạc tử cung, do đó tăng nguy cơ chảy máu nội.
Xử lý: Báo cho người bệnh biết nguy cơ này và khuyên họ nhanh chóng đến gặp bác sĩ khi có chảy máu. Lưu ý nguy cơ này để lựa chọn biện pháp ngừa thai.
Indomethacin hoặc dẫn chất; pyrazol; salicylat; thuốc chống viêm không steroid
Phân tích: Tăng tác dụng chống đông máu do đẩy thuốc chống đông ra khỏi các liên kết với protein huyết tương và do tác dụng hiệp đồng chống kết tập tiểu cầu. Thuốc chống viêm không steroid kích ứng niêm mạc dạ dày và làm tăng nguy cơ loét chảy máu, nhất là khi dùng ở những người bệnh cao tuổi.
Xử lý: Không nên kê đơn các thuốc này cùng nhau, vì nguy cơ chảy máu. Đối với aspirin, mặc dầu có gặp phối hợp trên thực tế, nhưng chỉ có thể thực hiện với liều thấp (dưới 200 mg). Với liều cao hơn, phối hợp này nên tránh, và là chống chỉ định chính thức. Trong trường hợp người bệnh tự điều trị, thông báo cho họ biết nguy cơ này.
Phenicol
Phân tích: Tương tác được mô tả với dicoumarol, acenocoumarol. Hoạt tính chống đông máu tăng lên, có thể do ức chế enzym.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR và tỉ lệ prothrombin, và nếu cần, hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi, và sau khi điều trị với cloramphenicol.
Ritonavir
Phân tích: Ritonavir có ái lực cao với isoenzym 3A4 của các cytochrom P450. Có sự cạnh tranh mạnh giữa ritonavir với các thuốc bị chuyển hoá bởi isoenzym này. Sự cạnh tranh này gây giảm chuyển hoá, và gây nguy cơ làm tăng đáng kể nồng độ của các thuốc đó trong huyết tương. Tăng nguy cơ chảy máu (đã mô tả với warfarin). Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc.
Xử lý: Cách nhau từng thời gian ngắn, phải xác định tỉ lệ prothrombin (hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR), và nếu cần thì giảm liều warfarin.
Sulfamid kháng khuẩn
Phân tích: Do liên kết mạnh với các protein, sulfamid có thể đẩy các thuốc kháng vitamin K, đặc biệt là warfarin (Coumadine) ra khỏi các liên kết với protein huyết tương. Có nguy cơ chảy máu. Cũng có thể là do sulfamid làm giảm tổng hợp vitamin K ở ruột. Riêng sulfamethoxazol hay viên thuốc chứa hỗn hợp sulfamethoxazol với trimethoprim (Bactrim; co-trimoxazol) ức chế được sự chuyển hoá warfarin ở gan, nên tác dụng của warfarin tăng mạnh và gây chảy máu.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế-INR, và hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi điều trị và trong vòng 8 ngày kể từ khi ngừng điều trị.
Sulfinpyrazon
Phân tích: Kết hợp thuốc này làm cho hoạt tính của thuốc chống đông máu, đặc biệt là warfarin tăng lên, có thể gây chảy máu. Cơ chế có thể do sulfinpyrazon ức chế sự chuyển hoá của warfarin đồng phân đối hình S ở gan.
Xử lý: Theo dõi chặt chẽ các chỉ số về đông máu. Thường thì cần phải hiệu chỉnh liều warfarin: Giảm liều warfarin khi bắt đầu uống sulfinpyrazon, và tăng liều warfarin khi ngừng điều trị với sulfinpyrazon.
Thioamin kháng giáp
Phân tích: Khi dùng thioamin kháng giáp, tác dụng của các thuốc chống đông máu thường bị thay đổi theo chiều hướng giảm. Cơ chế tác dụng chưa rõ.
Xử lý: Theo dõi các chỉ số về đông máu, và theo dõi đáp ứng với thuốc chống đông máu dùng đường uống. Chú ý cả hai chiều hướng: đáp ứng yếu đi hoặc mạnh lên. Nếu cần, thì hiệu chỉnh liều thuốc chống đông máu.
Ticlopidin
Phân tích: Ticlopidin chống kết tập tiểu cầu kéo dài 6 đến 7 ngày. Làm tăng rất nhiều nguy cơ chảy máu, nếu phối hợp với các thuốc chống đông máu.
Xử lý: Do ticlopidin có thể gây chảy máu nghiêm trọng, đôi khi gây tử vong, nên cần tránh kê đơn phối hợp này. Khi gặp một đơn thuốc như thế, dược sĩ phải thông báo cho người kê đơn.
Vitamin E
Phân tích: Vitamin E làm tăng tác dụng các thuốc chống đông máu dùng đường uống. Cơ chế có thể do vitamin E làm rối loạn chức năng của các yếu tố gây đông máu phụ thuộc vitamin K, do đó sẽ có tác dụng hiệp đồng với thuốc chống đông máu.
Xử lý: Phải theo dõi người bệnh cẩn thận xem các thuốc chống đông máu dùng đường uống có gây hiện tượng giảm prothrombin quá mức khi dùng vitamin E không. Theo dõi các chỉ số về đông máu và nếu cần, giảm bớt liều thuốc chống đông máu. Vì người bệnh hay tự ý dùng vitamin E, nên trước khi kê đơn thuốc chống đông máu, hỏi xem người bệnh có dùng vitamin E hay không.
Tương tác cần thận trọng: mức độ 2
Acetaminophen (paracetamol)
Phân tích: Acetaminophen làm tăng tác dụng của thuốc uống chống đông máu, tác dụng này phụ thuộc vào liều dùng. Tác dụng này không quan trọng về lâm sàng nếu dùng paracetamol liều thấp và thỉnh thoảng mới dùng (nghĩa là £ 6 viên 325 mg/tuần). Cơ chế chưa rõ.
Xử lý: Hạn chế dùng paracetamol và giám sát các thông số đông máu thường xuyên hơn (nghĩa là 1-2 lần/tuần) khi bắt đầu hoặc ngừng, đặc biệt khi dùng > 2275 mg/tuần. Điều chỉnh liều thuốc uống chống đông máu khi cần.
Alopurinol hoặc dẫn chất
Phân tích: Tăng nửa đời của thuốc chống đông máu do ức chế chuyển hoá ở gan. Tương tác dược động học về chuyển hoá thuốc ở gan.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, nên kiểm tra đều đặn hơn thời gian Quick và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR, tuỳ theo từng trường hợp, khi bắt đầu, trong và sau khi điều trị với alopurinol. Sau khi hiệu chỉnh liều, khuyên người bệnh dùng thuốc đều đặn vào những giờ cố định. Không được ngừng điều trị đột ngột, cũng như không thay đổi cách điều trị khi không có ý kiến của bác sĩ.
Aminosid uống
Phân tích: Tăng tác dụng kháng vitamin K, có thể do tác dụng của kháng sinh (tồn tại trong ruột) do vi khuẩn đường ruột sinh ra vitamin K hoặc do làm giảm hấp thu vitamin K.
Xử lý: Phối hợp này đòi hỏi tăng cường theo dõi việc điều trị với các thuốc kháng vitamin K bằng cách xác định tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR. Điều chỉnh liều lượng khi bắt đầu và khi ngừng điều trị bằng thuốc kháng sinh nếu cần.
Amiodaron
Phân tích: Phối hợp với các dẫn chất coumarin, thấy thời gian Quick có thể tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba. Tương tác này đã được mô tả với acenocoumarol (Sintrom*) và warfarin (Coumadine*).
Xử lý: Giảm 30-50% liều của thuốc kháng vitamin K và theo dõi thời gian Quick và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR nhiều tuần lễ kể từ lúc ngừng điều trị với amiodaron (nửa đời của amiodaron là 28 ngày).
Antipyrin
Phân tích: Tác dụng của thuốc kháng vitamin K bị giảm do antipyrin là một chất cảm ứng enzym tiềm tàng, làm tăng chuyển hoá và thanh lọc, đặc biệt của warfarin (coumadine), như vậy làm giảm tác dụng của chất chống đông máu.
Xử lý: Antipyrin (phenazon) có khi dùng phối hợp trong một số biệt dược để giảm đau và hạ sốt. Với người bệnh đang dùng thuốc kháng vitamin K (đặc biệt, đang dùng warfarin), nên tránh dùng các biệt dược chứa antipyrin (phenazon). Nếu cần phải phối hợp với thuốc kháng vitamin K, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR, và khi cần phải điều chỉnh liều dùng lúc bắt đầu, trong, và sau khi điều trị với biệt dược chứa antipyrin.
Barbituric; carbamazepin; griseofulvin; phenytoin; primidon hoặc dẫn chất; rifampicin
Phân tích: Các thuốc này gây cảm ứng enzym, làm tăng tốc độ dị hoá chất chống đông máu ở gan. Cảm ứng enzym không phải là một hiện tượng tức thì. Cần phải điều trị với chất cảm ứng enzym trước ít nhất mười ngày thì tương tác mới biểu hiện.
Xử lý: Cần phải lưu ý tương tác này để điều chỉnh liều cho thích hợp, và phải thực hiện những xét nghiệm sinh học (như tỉ lệ prothrombin, tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế-- INR) một cách thường xuyên hơn, tại lúc bắt đầu, trong và khi ngừng điều trị với những thuốc có tính chất cảm ứng enzym. Phải chú ý đến trình tự thời gian các lần dùng thuốc.
Benzofuran hoặc dẫn chất
Phân tích: Tương tác dược động học: ở liều cao, có sự tăng cường tính chất các kháng vitamin K do giảm dị hoá ở gan.
Xử lý: Điều chỉnh liều dùng lúc bắt đầu, trong khi và nếu cần thì cả khi ngừng điều trị thuốc chống bệnh thống phong. Phải theo dõi chặt chẽ tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR và / hoặc tỉ lệ prothrombin.
Cholestyramin
Phân tích: Giảm hấp thu nhiều thuốc qua đường tiêu hoá.
Xử lý: Khi phối hợp hai thuốc, khuyên nên uống thuốc chống đông máu hoặc trước hai giờ, hoặc bốn giờ sau khi dùng cholestyramin.
Cisaprid; fluoxetin; fluvoxamin; paroxetin; sulfasalazin hoặc dẫn chất
Phân tích: Do có liên kết mạnh với protein, thuốc phối hợp có thể đẩy các thuốc kháng vitamin K, đặc biệt acenocoumarol (Sintrom*) ra khỏi liên kết với protein huyết tương. Có nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế-INR và điều chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong và 8 ngày sau khi ngừng thuốc phối hợp. INR là cách biểu thị quốc tế mới, cho phép giảm những biến động kết quả xét nghiệm đông máu giữa các phòng xét nghiệm khác nhau.
Danazol
Phân tích: Tăng tác dụng chống đông máu do giảm tổng hợp các yếu tố đông máu ở gan. Có nguy cơ chảy máu. Tương tác này chỉ được phát hiện với warfarin (Coumadine).
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin và / hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế-INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị với danazol. Từ đó, điều chỉnh liều lượng cho thích hợp.
Diazoxyd
Phân tích: Do liên kết mạnh với protein huyết tương, diazoxyd có thể đẩy các kháng vitamin K, đặc biệt acenocoumarol (Sintrom) ra khỏi liên kết với protein huyết tương. Nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Thường chỉ thực hiện phối hợp thuốc này tại cơ sở bệnh viện. Cần phải hiệu chỉnh liều lượng, căn cứ kết quả xác dịnh tỉ lệ prothrombin hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR.
Disulfiram
Phân tích: Tăng tác dụng của thuốc kháng vitamin K do ức chế enzym, nên đã ngăn chặn chuyển hoá của thuốc kháng vitamin K.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc này, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin và / hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng disulfiram. Hiệu chỉnh liều cho thích hợp.
Fibrat
Phân tích: Có nguy cơ giảm thrombin huyết do thuốc kháng vitamin K bị đẩy khỏi những vị trí liên kết với protein huyết tương. Phần tự do của thuốc kháng vitamin K tăng lên. Tương tác dược động học.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin huyết và / hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng fibrat. Tuỳ theo các kết quả của những xét nghiệm sinh học mà hiệu chỉnh liều hay không hiệu chỉnh liều lượng.
Glucagon
Phân tích: Tăng tác dụng của thuốc kháng vitamin K do một cơ chế chưa được biết.
Xử lý: Tăng tác dụng này đã được mô tả khi dùng những liều trên 25mg một ngày, dùng hai hoặc nhiều ngày, và ít khi dùng tới liều này. Nếu cần đến liều đó, phải theo dõi thường xuyên thời gian Quick và / hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR, lúc bắt đầu, trong khi và lúc ngừng dùng phối hợp thuốc này. Điều chỉnh liều cho thích hợp theo các kết quả xét nghiệm sinh học.
Glucocorticoid
Phân tích: Tác dụng gây loét đường tiêu hoá của các corticoid làm tăng nguy cơ loét chảy máu, nhất là ở người bệnh cao tuổi.
Xử lý: Hỏi người bệnh về tiền sử loét (đường tiêu hoá). Phải tăng cường theo dõi về mặt lâm sàng và về sinh học khi phối hợp thuốc này. Khuyên người bệnh đi khám lại, nếu lại thấy đau kiểu loét xuất hiện.
Glutethimid hoặc thuốc tương tự
Phân tích: Aminoglutethimid là chất cảm ứng enzym, có tác dụng đẩy nhanh dị hoá thuốc chống đông máu ở gan. Cảm ứng enzym không phải là một hiện tượng tức thì. Để có tương tác, phải điều trị với chất cảm ứng enzym trước ít nhất 10 ngày.
Xử lý: Phải tính đến tương tác này để hiệu chỉnh liều thuốc. Việc theo dõi sinh học (tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR) phải thực hiện nhiều hơn, lúc bắt đầu điều trị với chất chống đông máu, trong thời gian và khi ngừng điều trị với chất cảm ứng enzym.
Heparin
Phân tích: Phối hợp hai thuốc có tác dụng chống đông máu, kéo theo tăng nguy cơ chảy máu.
Hormon tuyến giáp
Phân tích: Tác dụng của thuốc chống đông máu có thể bị rối loạn. Tăng liều hormon giáp trạng đòi hỏi giảm liều các thuốc kháng vitamin K (tạo điều kiện dị hoá các yếu tố prothrombin).
Xử lý: Thay đổi liều lượng hormon tuyến giáp gây ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc kháng vitamin K. Phối hợp thuốc này đòi hỏi hiệu chỉnh thường xuyên liều lượng theo tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR. Kiểm tra xem việc này có được thực hiện không.
Lansoprazol
Phân tích: Tương tác dược động học. Cần thận trọng với các thuốc bị chuyển hoá bởi các cytochrom P450 (như lansoprazol và thuốc uống chống đông máu), vì có nguy cơ giảm hoạt tính các thuốc này do cảm ứng enzym và điều đó có thể dẫn tới thất bại trong điều trị.
Xử lý: Lansoprazol là thuốc tương đối mới, nên còn thiếu nhận xét lâm sàng. Có thể ở đây có tương tác thuốc, vì vậy khuyên nên chuyển các nhận xét lâm sàng về các Trung tâm cảnh giác thuốc. Xét nguy cơ này trong bối cảnh điều trị. Thông báo cho người bệnh. Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp theo kết quả xét nghiệm sinh học khi bắt đầu và khi ngừng điều trị với lansoprazol. Khuyên người bệnh đến khám lại nếu có những biến động về tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR.
Macrolid
Phân tích: Tăng nguy cơ chảy máu (đặc biệt với warfarin) do giảm chuyển hoá và giảm thanh lọc (warfarin), đặc biệt ở những người bệnh cao tuổi (đến nay chưa có tài liệu về roxithromycin).
Xử lý: Nếu phối hợp thuốc, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR, trong và sau khi điều trị bằng macrolid (được nói nhiều với troleandomycin (TAO) và erythromycin). Tương tác này đôi khi khó quản lý, vì thời gian xảy ra tương tác ngắn.
Natri valproat hoặc dẫn chất
Phân tích: Natri valproat có thể gây giảm tiểu cầu, giảm prothrombin huyết và giảm kết tập tiểu cầu. Như vậy, nó có thể gây chảy máu ở người bệnh điều trị bằng các thuốc uống kháng vitamin K hoặc heparin hoặc các thuốc làm tan huyết khối.
Xử lý: Khi phối hợp thuốc, tuỳ theo thuốc chống đông máu đã dùng, cần tăng cường theo dõi đếm tiểu cầu, thời gian cephalin hoạt hoá (TCA), thời gian Howell, thời gian chảy máu, tỉ lệ prothrombin, tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR.
Nilutamid
Phân tích: Tăng tác dụng của thuốc kháng vitamin K, có thể do giảm chuyển hoá các thuốc đó.
Xử lý: Điều chỉnh liều cho thích hợp theo tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong khi và sau khi điều trị bằng nilutamid. Báo cho người bệnh không được ngừng điều trị một cách đột ngột.
Nitroimidazol
Phân tích: Tăng tác dụng của thuốc kháng vitamin K do ức chế enzym có trách nhiệm chuyển hoá thuốc kháng vitamin K. Tương tác này dã được mô tả với warfarin (Coumadine).
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin và/ hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng nitroimidazol. Điều chỉnh liều cho thích hợp.
Omeprazol
Phân tích: Omeprazol ức chế cytochrom P450 có thể kéo theo sự chậm trễ trong chuyển hoá warfarin, làm tăng nồng độ warfarin trong huyết thanh, và tăng nguy cơ chảy máu do quá liều.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR, và điều chỉnh liều cho thích hợp lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng omeprazol (quá trình điều trị kéo dài 4 đến 6 tuần lễ), hoặc thay đổi chất ức chế bơm proton.
Pentoxyfylin
Phân tích: Tăng nguy cơ chảy máu (cơ chế chưa biết).
Xử lý: Tăng cường theo dõi một cách đều đặn thời gian Quick và/ hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong khi hay khi ngừng phối hợp thuốc. Điều chỉnh liều cho thích hợp theo các kết quả xét nghiệm sinh học.
Propafenon
Phân tích: Tương tác này mới được mô tả với warfarin (Coumadine). Tăng tác dụng chống đông máu, và do đó tăng nguy cơ chảy máu, có thể do ức chế chuyển hoá oxy hoá warfarin.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều theo tỉ lệ prothrombin và/ hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR lúc bắt đầu, trong khi và khi ngừng điều trị bằng propafenon.
Quinidin hoặc dẫn chất
Phân tích: Có thể làm tăng tác dụng của thuốc kháng vitamin K, do giảm tổng hợp một số yếu tố đông máu ở gan, cũng có thể do tăng ái lực của thụ thể đối với chất kháng vitamin K.
Xử lý: Nếu cần phối hợp thuốc, phải theo dõi tỉ lệ prothrombin và/ hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng quinidin. Dựa vào đó mà hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp. Giải thích để người bệnh thấy cần phải theo dõi sinh học.
Quinolon
Phân tích: Do liên kết mạnh với protein, thuốc phối hợp có thể đẩy thuốc kháng vitamin K ra khỏi liên kết với protein huyết tương, đặc biệt với acenocoumarol (Sintrom*), ciprofloxacin (Ciflox*, Uniflox*), ofloxacin (Oflocet*, Exocine*) và norfloxacin (Noroxine*400). Có nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế- INR và điều chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi điều trị và trong vòng 8 ngày sau khi ngừng điều trị.
Rifamycin
Phân tích: Rifamycin làm giảm tác dụng chống đông máu của warfarin, do rifamycin làm tăng chuyển hoá warfarin ở gan.
Xử lý: Có thể phải tăng liều lượng thuốc uống chống đông máu khi phối hợp với rifamycin. Phải giám sát chặt các xét nghiệm về đông máu khi ngừng rifamycin để tránh chảy máu.
Steroid đồng hoá alkyl hoá ở C17
Phân tích: Tác dụng chống đông máu tăng do một cơ chế chưa được rõ. Có thể là do giảm số lượng một số tiền yếu tố đông máu, hay do dị hoá và do tăng ái lực của các thụ thể với chất chống đông máu.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều cho thích hợp, lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị, có chú ý tới thứ tự thời gian uống mỗi thứ thuốc. Theo dõi dựa vào các tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR.
Sucralfat
Phân tích: Giảm hấp thu các thuốc này khi phối hợp với sucralfat (tương tác dược động học về hấp thu thuốc).
Xử lý: Khuyên người bệnh phải đảm bảo một khoảng cách 2 giờ giữa các lần uống hai thuốc dó.
Tamoxifen
Phân tích: Tăng mạnh nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Theo dõi đều đặn thời gian Quick và/ hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế- INR, lúc bắt đầu, trong khi hoặc lúc ngừng dùng phối hợp thuốc. Hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp theo kết quả các xét nghiệm sinh học. Giải thích cho người bệnh thấy cần phải theo dõi sinh học.
Tetracyclin
Phân tích: Nguy cơ chảy máu do một cơ chế chưa rõ. Tương tác này rất ít được nói tới trong y văn.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR, và hiệu chỉnh liều cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi điều trị và trong vòng 8 ngày sau khi ngừng điều trị.
Thuốc chống loét kháng H2 kiểu cimetidin
Phân tích: Cimetidin là chất ức chế enzym oxydase ở gan (cytochrom P450) xúc tác cho chuyển hoá một số thuốc. Ngoài ra, nó làm giảm lưu lượng máu ở gan. Do đó, nồng độ một số thuốc trong huyết tương tăng lên (nguy cơ quá liều), và trong khi ức chế một số biến đổi sinh học, cimetidin cũng phong bế các cơ chế giải độc. Có nguy cơ hạ thrombin máu, và hiện tượng này đã được mô tả với acenocoumarol do ức chế sự dị hoá chất này ở gan.
Xử lý: Với một số thuốc kháng vitamin K như acenocoumarol (Sintrom*), phenindion (Pindione), warfarin (Coumadine), thấy nguy cơ hạ thrombin huyết đã được mô tả. Như vậy, phải thay thuốc chống loét dạ dày hoặc điều chỉnh lại liều thuốc kháng vitamin K lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị với thuốc kháng H2 dựa theo kết quả xét nghiệm tỉ lệ prothrombin, hoặc tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế - INR (một đợt điều trị với thuốc kháng H2 kéo dài 4 đến 6 tuần lễ)
Thuốc chống trầm cảm ba vòng
Phân tích: Thuốc chống trầm cảm ba vòng làm tăng nửa đời và sinh khả dụng của dicoumarol, do đó làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu này. Cơ chế có thể do ức chế sự chuyển hoá dicoumarol ở gan, cũng có thể là tăng hấp thu dicoumarol.
Xử lý: Theo dõi thời gian prothrombin và những dấu hiệu về chảy máu ở người bệnh. Nếu cần, giảm liều dicoumarol.
Thuốc chống ung thư
Phân tích: Làm tăng tác dụng của warfarin, có thể do ức chế sự chuyển hoá hoặc do đẩy chất này khỏi liên kết với protein huyết tương, cũng có thể do ức chế sự tổng hợp các yếu tố đông máu.
Xử lý: Theo dõi cẩn thận các thông số về đông máu khi dùng và sau khi ngừng dùng hoá liệu pháp chống ung thư. Hiệu chỉnh liều warfarin khi cần.
Thuốc kháng acid uống hoặc than hoạt
Phân tích: Thuốc kháng acid làm giảm hấp thu ở đường tiếu hoá, nên làm giảm tác dụng của thuốc phối hợp.
Xử lý: Cần phải có một khoảng thời gian cách nhau ít nhất 1 đến 2 giờ giữa lần uống thuốc kháng acid với lần uống thuốc này. Các thuốc kháng acid thường được uống sau bữa ăn 1 giờ 30 phút, và ăn là nguyên nhân của tăng tiết dịch ở dạ dày.
Thuốc kháng giáp tổng hợp
Phân tích: Giảm hiệu quả điều trị chống đông máu khi dùng thêm carbimazol (Neo-mercazole), do một cơ chế chưa được giải thích rõ.
Xử lý: Hiệu chỉnh lại liều lượng theo tỉ lệ chuẩn hóa  quốc tế - INR và / hoặc thời gian Quick, lúc bắt đầu, trong và sau khi điều trị bằng thuốc kháng giáp.
Thuốc nhuận tràng làm trơn
Phân tích: Dùng dầu paraffin với các thuốc kháng vitamin K làm giảm hấp thu và làm giảm tác dụng của thuốc kháng vitamin K.
Xử lý: Có thể tránh được những hậu quả của tương tác này bằng cách khuyên người bệnh dùng các thuốc đó cách nhau nhiều giờ (hoặc trước 2 giờ, hoặc 4 giờ sau khi dùng dầu paraffin).
Thuốc nhuận tràng tạo thạch và thẩm thấu
Phân tích: Dùng các thuốc nhuận tràng tạo thạch và thẩm thấu cùng với các kháng vitamin K làm giảm hấp thu thuốc kháng vitamin K và làm giảm hoạt tính của chúng.
Xử lý: Có thể tránh được tương tác này, nếu các thuốc được dùng cách nhau ít nhất 2 giờ.
Vitamin A
Phân tích: Do vitamin A liên kết với protein, nên có thể đẩy các thuốc kháng vitamin K ra khỏi liên kết với protein huyết tương, và làm tăng tác dụng của chúng. Tương tác dược động học xảy ra trong thời gian phân bố thuốc khi vitamin A dùng với liều cao.
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin khi bắt đầu dùng vitamin A (có thể có sự hiệu chỉnh liều thuốc uống chống đông máu, nếu cần) và khi ngừng dùng (có thể cần hiệu chỉnh lại liều).
Vitamin K
Phân tích: Tác dụng của thuốc chống đông máu dùng đường uống sẽ bị giảm đi, thậm chí bị đảo ngược dẫn đến tạo huyết khối. Cơ chế là tác dụng ức
chế các yếu tố đông máu do uống thuốc chống đông máu bị triệt tiêu bởi vitamin K.
Xử lý: Tránh dùng kết hợp hai thuốc này. Tránh ăn thực phẩm giàu vitamin K khi uống thuốc chống đông máu. Theo dõi chặt chẽ các chỉ số đông máu, chú ý đến các dấu hiệu phản ánh sự tạo thành huyết khối. Hiệu chỉnh liều thuốc chống đông máu khi cần.
Tương tác cần theo dõi: mức độ 1
Citalopram
Phân tích: Tương tác dược động học: tăng tác dụng chống đông máu và tăng nguy cơ chảy máu.
Xử lý: Hiệu chỉnh liều lượng khi điều trị bằng citalopram và khi ngừng điều trị. Kiểm tra thường xuyên tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR.
Sulfamid hạ glucose máu
Phân tích: Do liên kết mạnh với protein, thuốc phối hợp có thể đẩy thuốc kháng vitamin K ra khỏi liên kết với protein huyết tương. Có nguy cơ chảy máu. Cũng còn thấy tăng nguy cơ hạ glucose máu, đôi khi gây hôn mê. Điều này đã được mô tả khi dùng phối hợp dicoumarol với tolbutamid (Dolipol); dicoumarol với clorpropamid (Diabinese*); acenocoumarol (Sintrom*) với clorpropamid (Diabinese*); warfarin (Coumadine) với glibenclamid (Daonil*).
Xử lý: Theo dõi tỉ lệ prothrombin hay tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR, và hiệu chỉnh liều lượng cho thích hợp lúc bắt đầu, trong khi điều trị và trong vòng 8 ngày sau khi điều trị.
Rượu
Phân tích: Uống nhiều rượu được coi như dùng một chất ức chế enzym và có khả năng ức chế sự biến đổi sinh học của thuốc chống đông máu, do đó làm tăng tác dụng của chất này. Trái lại, khi uống rượu thường xuyên, được coi như dùng chất cảm ứng enzym, như vậy có nguy cơ đẩy nhanh biến đổi sinh học của thuốc chống đông máu và làm giảm tác dụng của thuốc này.
Xử lý: Điều trị người bệnh bằng các thuốc kháng vitamin K sẽ khó khăn nếu người bệnh nghiện rượu. Những biến động của tỉ lệ prothrombin và tỉ lệ chuẩn hóa quốc tế -INR là đáng ngại. Nếu người bệnh nghiện rượu, phải tính đến điều này để hiệu chỉnh liều lượng lúc ban đầu cho thích hợp, sau đó tiếp tục hiệu chỉnh lại theo kết quả thu được. Cẩn thận nếu người bệnh quyết định ngừng uống rượu trong khi còn điều trị với chất chống đông máu và khi đó nên hiệu chỉnh lại liều lượng.
Thuốc làm tan huyết khối
Phân tích: Tăng nguy cơ chảy máu, cần bác sĩ chuyên khoa theo dõi.
Xử lý: Thông thường kê đơn các thuốc làm tan huyết khối, và cho dùng các thuốc này phải được các bác sĩ chuyên khoa (các chuyên gia tim mạch và bác sĩ của đội cấp cứu) thực hiện, vì thuốc có phạm vi điều trị hẹp, và cách điều trị chuyên biệt. Kiểm tra đảm bảo người bệnh chưa dùng thuốc chống đông máu. Nếu có, thì phải tính đến nguy cơ.

EBOOK TƯƠNG TÁC THUỐC - BỘ Y TẾ

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH ĐỂ SỬ DỤNG CHO TỐT
KHÁI NIỆM VỀ TƯƠNG TÁC THUỐC
ACAMPROSAT
ACETORPHAN
ACICLOVIR
ACID ASCORBIC
ACID CHENODESOXYCHOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID CROMOGLYCIC HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
ACID FOLIC HOẶC DẪN CHẤT
ACID FUSIDIC
ACID HOÁ NƯỚC TIỂU ( CÁC CHẤT)
ACTINOMYCIN D
ALOPURIOL HOẶC DẪN CHẤT
ALPROSTADIL
AMANTADIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
AMINEPTIN
AMINOGLYCOSID (NHÓM KHÁNG SINH)
AMIOGLYCOSID ĐƯỜNG UỐNG
AMIODARON
AMPHETAMIN HOẶC DẪN CHẤT
AMPHOTERICIN B
ANTIMON (Hợp chất)
APOMORPHIN
ASPARAGINASE
AZATHIOPRIN
BEPRIDIL
BETAHISTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BIGUANID
BIPHOSPHONAT
BRETYLIUM
BROMOCRIPTIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
BUSPIRON
BUTYROPHENON (dẫn chất)
CÁC THUỐC LOẠI CURA
CAFEIN
CALCI (muối)
CALCITONIN
CARBAMAT HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CARBAMAZEPIN
CARMUSTIN
BENZOYL PEROXYD
BENZYL BENZOAT
BENZOFURAN (dẫn chất)
BENZODIAZEPIN (dẫn chất)
BENZIMIDAZOL (dẫn chất)
BENZAMID (dẫn chất)
BARBITURIC (dẫn chất)
BACLOFEN
CEPHALOSPORIN CÓ NHÂN THIOMETHYLTETRAZOL
CEPHALOSPORIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CHOLESTYRAMIN
CHOLINERGIC
CICLOSPORIN
CIMETIDIN
CISAPRID
CISPLATIN HOẶC DẪN CHẤT
CITALOPRAM
CLONIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CLORHEXIDIN
CLOZAPIN
COLCHICIN HOẶC DẪN CHẤT
CORTICOID - KHOÁNG
CAROTENOID
CYCLOPHOSPHAMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
CYCLOSERIN
DANAZOL
DANTROLEN
DAPSON
DEFEROXAMIN
DESMOPRESSIN
DEXTRAN
DEXTROPROPOXYPHEN
DIACERHEIN
DIAZOXID
DIDANOSIN
DIHYDROPYRIDIN (dẫn chất)
DILTIAZEM
DIPYRIDAMOL
DISOPYRAMID
DISULFIRAM
DOXAPRAM
DOXORUBICIN HOẶC DẪN CHẤT
Độc tố CLOSTRIDIUM BOTULINUM
DỤNG CỤ TRÁNH THAI
ERGOTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
ESTROGEN HOẶC THUỐC NGỪA THAI ESTROPROGESTOGEN
ETHAMBUTOL
ETHOSUXIMID
ETRETINAT (dẫn chất)
EUCALYPTOL
FENOVERIN
FIBRAT
FINASTERID
FLAVOXAT
FLECAINID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FLOCTAFENIN
FLUCYTOSIN
FLUMAZENIL
FLUOR (Dẫn chất)
FLUORO-5-URACIL
FLUOXETIN
FLUVOXAMIN
FOSCARNET
FOSFOMYCIN
FUROSEMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
FUSAFUNGIN
GANCICLOVIR
GLUCAGON
GLUCOCORTICOID
GLUTETHIMID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
GLYCOSID TRỢ TIM
GONADOTROPHIN NHAU THAI
GONADOTROPHIN CÓ HOẠT TÍNH FSH
GRISEOFULVIN
GUANETHIDIN
HALOFANTRIN
HEPARIN HOẶC CÁC DẠNG PHÂN TỬ THẤP
HEPARIN TỔNG HỢP
HEPTAMINOL
HISTAMIN HOẶC DẪN CHẤT
HORMON CHỐNG LỢI TIỂU HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TĂNG TRƯỞNG HOẶC DẪN CHẤT
HORMON TUYẾN GIÁP
HUYẾT THANH KHÁC LOẠI ĐẶC HIỆU
HYDROXYQUINOLEIN (Dẫn chất)
IDOXURIDIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
IDROCILAMID
IMMUNOGLOBULIN KHÁNG TẾ BÀO LYMPHO
IMMUNOGLOBULIN NGƯỜI
INDINAVIR
INDOMETACIN HOẶC DẪN CHẤT
INSULIN
INTERFERON ALPHA TÁI TỔ HỢP
INTERLEUKIN 2 TÁI TỔ HỢP
ISONIAZID HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
KALI (muối)
KHÁNG SINH POLYPEPTID
LAMIVUDIN
LANSOPRAZOL
LEVODOPA
LIDOCAIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
LINCOSAMID
LIPID (nhũ dịch tiêm truyền)
LITHI (muối)
LOPERAMID
LỢI TIỂU GIỮ KALI
LỢI TIỂU THẢI KALI
LỢI TIỂU THẨM THẤU
LƯU HUỲNH
MACROLID
MAGNESI (muối)
MEDIFOXAMIN
MELPHALAN
MERCAPTOPURIN
METHADON
METHENAMIN
METHOTREXAT
METHYLDOPA
METHYSERGID
MEXILETIN
MIANSERIN
MIFEPRISTON
MODAFINIL
MOLSIDOMIN
MUROMONAB CD3
NAFTIDROFURYL
NATRI VALPROAT HOẶC DẪN CHẤT
NELFINAVIR
NHỰA TRAO ĐỔI CATION
NICORANDIL
NICOTIN
NILUTAMID
NIRIDAZOL
NITROFURAN
NITROIMIDAZOL HOẶC DẪN CHẤT
NITROXOLIN
OCTREOTÍD HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
OMEPRAZOL
OXAFLOZAN
OXITRIPTAN
OXYTOCIN
PAPAVERIN HOẶC DẪN CHẤT
PARACETAMOL
PAROXETIN
PENICILAMIN HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
PENICILIN
PENTAGASTRIN
PENTAMIDIN
PENTOSTATIN
PENTOXYFYLIN
PHENAZON
PHENICOL
PHENOTHIAZIN
PHENYTOIN
PHOSPHO HOẶC PHOSPHAT
PINAVERIUM BROMID
PIPERAZIN
PIRIBEDIL
PRALIDOXIM
PRAZIQUANTEL
PRIMIDON
PROBENECID
PROCARBAZIN
PROGABID
PROGESTOGEN HOẶC DẪN CHẤT
PROPAFENON
PROSTAGLANDIN CHỐNG LOÉT
PROSTAGLANDIN TRONG PHỤ KHOA
PROTAMIN
PYRANTEL HOẶC DẪN CHẤT
PYRAZINAMID
PYRAZOL HOẶC DẪN CHẤT
PYRETHRIN HOẶC DẪN CHẤT
PYRIDOXIN
PYRIMETHAMIN
QUINIDIN HOẶC DẪN CHẤT
QUININ HOẶC THUỐC TƯƠNG TỰ
QUINOLON
RANITIDIN
RIFABUTIN
RIFAMPICIN
RITONAVIR
RƯỢU
SALICYLAT (dẫn chất)
SAQUINAVIR
SERMORELIN
SOTALOL
SPARFLOXACIN
SULFAMID CHỐNG TIỂU ĐƯỜNG
SUCRALFAT
SUCCINIMID
STEROID GÂY ĐỒNG HOÁ, ALKYL HOÁ Ở C17
SULFAMID KHÁNG KHUẨN
SULFASALAZIN
SUMATRIPTAN
SYNERGISTIN
TACRIN
TACROLIMUS
TAMOXIFEN
TEICOPLANIN
TERBINAFIN
TETRACOSACTID
TETRACYCLIN
THEOPHYLIN HOẶC DẪN CHẤT
THIOTEPA
THUỐC AN THẦN KINH CÁC LOẠI
THUỐC BẢO VỆ CHỐNG ÁNH SÁNG
THUỐC CẢM ỨNG GÂY RỤNG TRỨNG LOẠI CLOMIFEN
Thuốc cầm máu
Thuốc chẹn alpha
Thuốc chẹn Alpha - Beta
Thuốc chẹn beta
Thuốc chống đau thắt ngực nitrat
Thuốc uống chống đông máu kháng vitamin K
Thuốc chống hen
Thuốc chống ho không opi
Thuốc chống nấm dẫn xuất imidazol
Thuốc chống nấm khác
Thuốc chống sốt rét
Thuốc chống suy nhược kích thích tâm thần
Thuốc chống tăng huyết áp loại liệt hạch
Thuốc ức chế tiêu fibrin
Thuốc chống trầm cảm ba vòng hoặc thuốc tương tự
Thuốc chống ung thư các loại
Thuốc chống vẩy nến dùng tại chỗ
Thuốc chống viêm không steroid
Thuốc chủ vận của morphin
Thuốc vừa chủ vận vừa đối kháng với morphin
Thuốc cường giao cảm alpha và beta
Thuốc cường thần kinh giao cảm beta
Các thuốc trong nhóm
Thuốc diện hoạt tổng hợp tác dụng ở phổi
Thuốc đối kháng morphin
Thuốc đối kháng thụ thể HT3
Thuốc đối quang có baryt
Thuốc đối quang có iod
Thuốc gây mẫn cảm ánh sáng
Thuốc gây xơ cứng tĩnh mạch
Thuốc giãn mạch chống tăng huyết áp
Thuốc hạ lipid máu các loại
Thuốc kháng acid uống, thuốc bao niêm mạc và hấp phụ
Thuốc kháng cholinergic
Thuốc kháng giáp tổng hợp
Thuốc kháng histamin kháng H1 có tác dụng an thần gây buồn ngủ
Thuốc kháng histamin kháng H1 không an thần
Thuốc kiềm hoá nước tiểu
Thuốc làm tan huyết khối
Thuốc làm thay đổi chất nhầy phế quản
THUỐC GÂY MÊ BARBITURIC
THUỐC GÂY MÊ VÀ TIỀN MÊ
THUỐC GÂY MÊ BAY HƠI CHỨA HALOGEN
THUỐC NHUẬN TRÀNG KÍCH THÍCH
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM MỀM
THUỐC NHUẬN TRÀNG LÀM TRƠN
THUỐC NHUẬN TRÀNG NHẦY VÀ THẨM THẤU
THUỐC NGỪA THAI DIỆT TINH TRÙNG
THUỐC SÁT KHUẨN DẪN CHẤT AMONI BẬC BỐN
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ IOD
THUỐC SÁT KHUẨN MUỐI KIM LOẠI
THUỐC SÁT KHUẨN CÓ THUỶ NGÂN
THUỐC SÁT KHUẨN KHÁC
THUỐC SẮT DÙNG TRONG ĐIỀU TRỊ
THUỐC TĂNG ÔXY NÃO
THUỐC TIÊU LỚP SỪNG
CÁC THUỐC TRỢ ĐẺ, DẪN CHẤT CỦA NẤM CỰA GÀ
THUỐC TRỢ HÔ HẤP
THUỐC TRỢ TIM BUPYRIDINIC
THUỐC TRỪ SÂU CLOR HỮU CƠ
THUỐC ỨC CHẾ ENZYM CHUYỂN DẠNG ANGIOTENSIN
THUỐC ỨC CHẾ HMG-COA REDUCTASE (CÁC STATIN)
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ A
THUỐC ỨC CHẾ MAO typ b
THUỐC ỨC CHẾ MAO KHÔNG CHỌN LỌC
THUỐC ỨC CHẾ HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG – CÁC LOẠI
TICLOPIDIN
TRH (hormon giải phóng hormon kích thích tuyến giáp, THYROTROPHINE RELEASING HORMONE)
TRIMEBUTIN
TRIMETHOPRIM
VACCIN SỐNG GIẢM ĐỘC LỰC
VANCOMYCIN
Liệu pháp vàng chống thấp khớp
VERAPAMIL
VIDARABIN
VIGABATRIN
VILOXAZIN
VINCAMIN
Vincristin hoặc thuốc tương tự
VITAMIN A
VITAMIN B12
VITAMIN NHÓM B
VITAMIN NHÓM D
Yếu tố tăng trưởng bạch cầu hạt
Yếu tố tăng trưởng hồng cầu
ZALCITABIN
ZIDOVUDIN

KEYWORD : Phác Đồ Chữa Bệnh, Bệnh Viện Bạch Mai, Từ Dũ , 115, Bình Dân, Chấn thương chỉnh hình, Chợ Rẫy, Đại học Y Dược, Nhân Dân Gia Định, Hoàn Mỹ, Viện Pasteur, Nhi Đồng Ung bướu, Quân Đội 103, 108,Phụ Sản Trung Ương, Bộ Y Tế,Phòng Khám, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Vinh, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hiệu Quả Cao, Chữa Tốt, Khỏi Bệnh, Là Gì, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Ăn Uống, Cách Chữa, Bài Thuốc
Thông Tin Trên Web Là Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ Cho Các Bạn Sinh Viên - Y, Bác Sĩ Tham Khảo : Liên Hệ : Maikhanhdu@gmail.com